Bào ngư Hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc Bào Ngư cho người dân - Phần 3
Sản phẩm khuyên dùng
Máy thổi khí AT thiết kế nhỏ gọn, lưu lượng khí lớn, áp suất mạnh. Phù hợp để lắp đặt sục khí ao nuôi tôm, trại giống, ương tôm, nuôi tôm nhà màng …
Sản phẩm khuyên dùng
Máy thổi khí Fujio là kết quả của quá trình nghiêm cứu chuyên sâu về nguyên lý áp suất, khí nén và điện năng. Không sử dụng dầu nhớt và độ bền đã được kiểm chứng.
Sản phẩm khuyên dùng
Khuếch tán khí Fi được thiết kế đặc biệt, hai đường Ống Nano-Tube song song và thông nhau, áp suất tạo ra đủ lớn dẫn đến bong bong khí, đồng đều trên khắp mặt ống.

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc Bào Ngư cho người dân - Phần 3

Author Ts. Trương Quốc Phú, publish date Monday. August 22nd, 2016

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc Bào Ngư cho người dân - Phần 3

II. KỸ THUẬT NUÔI.

Trong nghề nuôi Bào ngư giống được cung cấp chủ yếu từ hai nguồn, giống tự nhiên và giống nhân tạo:

1. Giống tự nhiên.

Bãi giống tự nhiên thường là những bãi đá có Bào ngư bố mẹ phân bố, trên nền đá thường có nhiều rong biển phát triển.

Cao trình của bãi từ tuyến triều thấp trở xuống và có nồng độ muối từ 25-35%o.

Sau mùa sinh sản, theo dõi trên bãi giống khi thấy có nhiếu Bào ngư con kích thước 0,5-1cm (ấu thể) thì có thể tiến hành thu giống.

Cách thu giống đơn giản là dùng tay và móc để bắt giống.

2. Giống nhân tạo.

Hiện nay có nhiều cách cho Bào ngư sinh sản nhân tạo.

Dùng các kích thích bằng hóa chất hoặc vật lý để kích thích Bào ngư sinh sản như: tia cực tím, oxy già, gây sốc nhiệt, sốc pH… Qui trình sản xuất giống của Nhật và Trung Quốc tương đối đơn gian và dể áp dụng đó là dùng nước chảy để kích thích Bào ngư sinh sản.

Quy trình sản xuất giống của Nhật bản:

*

Dụng cụ, thiết bị: dụng cụ để chứa Bào ngư bố mẹ khi sinh sản là một thuyền gổ dài khoảng 3,5m, rộng 1m và chiều cao mực nước trong thuyền là 1,5m.

Trên thuyền có chia nhiều ô, xung quanh có nhiều lỗ bọc lưới để cho nước lưu thông nhưng ngăn không cho ấu trùng ra ngoài.

Sau khi chuẩn bị xong thì mang đến bãi biển nước sạch để bắt đầu cho sinh sản.

*

Tuyển chọn bố mẹ và cho sinh sản: chọc các cá thể khoẻ mạnh, sinh trưởng nhanh, không bị dị tật và tuyến sinh dục thành thục (dựa vào màu sắc).

Lấy tế bào sinh dục kiển tra dưới kính hiển vi.

Trứng chín hình tròn rời rạc và có thể nhìn thấy nhân, tinh trùng vận động mạnh khi cho vào môi trường nước.

Sau khi tuyển chọn xong đưa bố mẹ vào các ô thuyền với tỉ lệ 2-3 cái/1 đực.

Trong các ô thuyền nước lưu thông và điều kiện môi trường nước sạch sẽ, có hàm lượng oxy hòa tan cao sau một thời gian ngắn Bào ngư sẽ đẻ.

Thường xuyên theo dõi nếu Bào ngư sinh sản xong chúng ta vớt bố mẹ ra khỏi các ô thuyền sau đó chuyển thuyền đến nơi ương (điều kiện môi trường ổn định và ít sóng gió hơn).

*

Ương ấu trùng: theo dõi quá trình phát triển phôi, khi xuất hiện ấu trùng phù du chúng ta cần cung cấp thêm các loài tảo Silic, tảo Giáp làm thức ăn cho ấu trùng.

Khi xuất hiện ấu trùng diện bàn chúng ta thả giá thể vào.

Giá thể thường dùng là đá sỏi hoặc các loại giá thể khác, trước khi thả giá thể vào giá thể nên được rửa sạch.

Khi xuất hiện ấu trùng bò lê thì chúng ta cho rong mơ non vào cho ấu trùng ăn

*

Chăm sóc: trong quá trình ương thường xuyên theo dõi và duy trì nhiệt độ từ 28-30oC.

Nồng độ muối 30%o và pH là 7,5.

Cần chú ý ở giai đoạn ấu trùng hình thành nắp vỏ phải giữ môi trường ương thật ổn định, nếu không ấu trùng sẽ không trãi qua được giai đoạn mất nắp vỏ và ấu trùng sẽ chết.

*

Vận chuyển giống: dụng cụ dùng vận chuyển chủ yếu là thùng gổ với kích thước F=45-50cm, cao 30-40cm.

Mật độ vận chuyển khoảng 100 con/thùng.

Trong quá trình vận chuyển phải thay nước và giữ cho Bào ngư không bị chồng lên nhau, nêu Bào ngư bám vào nhau sẽ làm bít lỗ hút nước của con bên dưới, Bào ngư sẽ bị chết.

Quy trình sản xuất giống bào ngư Haliotis oliva tại Việt Nam (Theo Lê Đức Minh, 2002):

*

Chuẩn bị bố mẹ: Bố mẹ cho sinh sản lấy từ 2 nguồn tự nhiên và nuôi vỗ.

Bố mẹ tự nhiên được chọn dựa vào màu sắc tuyến sinh dục và vận chuyển theo phương pháp giữ ẩm (5 giờ).

Bố mẹ có thể nuôi vỗ trong bể có các điều kiện sau:

Nhiệt độ nước: 27-29oC

Độ mặn: 30-34%o

pH: 7,6-8,4

Thức ăn: Rong Gracilaria, Ulva, Sargassum, Laminaria

Sục khí mạnh, thay nước 100%

Siphon đáy ( hút cặn)

Cung cấp vật bám làm nơi trú ẩn cho bào ngư

Kiểm tra thường xuyên quá trình phát triển của tuyến sinh dục để tiến hành cho sinh sản

*

Kích thích sinh sản:

Kích thích bằng chiếu tia cực tím: dùng đèn có công suất 10W chiếu vào nước trong 10-20 phút bào ngư sẽ đẻ, nêu không thì lặp lại vài lần

Kích thích nhiệt khô: bọc bào ngư trong một lớp gạc thầm nước đặt ngửa trên khay phơi trong 30-60 phút,sau đó cho và bể nước trở lại sẽ kích thích bào ngư sinh sản

Kích thích nhiệt nước: Nâng nhiệt độ nước lên 4oC trong 4 giờ sau đó hạ nhiệt đột ngột bằng nhiệt độ ban đầu, lặp lại vào lần bào ngư sẽ đẻ

Kích thích bằng oxy già: Bọc bào ngư trong tấm gạc thấm nước, đặt ngửa trên khai men phơi trong 10 phút sau đó cho vào bể nước có chứa H2O2 4 mM trong 30-60 phút, thay nước mới 30 phút sau thì bào ngư sẽ đẻ

Kích thích bằng cách kết hợp chiếu tia cực tím với kích thích nhiệt khô và nhiệt nước: Phơi bào ngư 30-60 phút sau đó cho vào nước có chiếu tia cực tím, nâng nhiệt độ lên 4oC (từ 27 lên 31oC), tiếp đến hạ nhiệt độ đột ngột bằng nhiệt độ ban đầu

Kích thích bằng cách thay đổi chu kỳ ánh sáng: Che tối bể đẻ bằng vải bạt đen vào ban ngày và chiếu sáng bằng đèn neon 40W vào ban đêm trong vòng 27-20 ngày bào ngư sẽ sinh sản

*

Ương ấu trùng: 5-7 giờ sau thụ tinh có thể thu ấu trùng vào bể ương.

Giai đoạn này ấu trùng không ăn thức ăn ngoài nên chủ yếu là quản lý chất lượng nước tốt.

Giữ nhiệt độ khoảng 27-30oC, độ mặn >30%o và oxy > 4 mg/L.

Giai đoạn ấu trùng bám bào ngư ăn tảo khuê sống bám như Nitzschia, Navicula nên cần phài nuôi tảo cung cấp cho ấu trùng.

Dùng các tầm nhựa mỏng làm vật bám đặt trong môi trường có bón phân để nuôi tảo bám sau đó chuyển vào bể ương ấu trùng để cho ăn.

Sau 1 tháng ương ấu trùng đạt cỡ 2mm thì chuyển sang ương giống, giai đoạn này có bổ sung thêm thức ăn lá rong tươi băm nhỏ (Rong có kích thước lớn).

Khi ấu trùng đạt 10-15 mm thì chuyển ra lồng để nuôi thịt

3. Nuôi lớn.

Bãi nuôi lớn được chọn ở tuyến triều thấp, có nồng độ muối 25-35%o và có nhiều rong đỏ, rong nâu.

Dùng đá làm giá thể xếp sao cho trên bãi có nhiều hốc đá cho Bào ngư ẩn nấp.

Khi nước triều đứng (không có dòng chảy) mang giống Bào ngư đến và rải đều trên bãi.

Nên rải nơi cạn vì sau khi rải Bào ngư có khuynh hướng di chuyển xuống sâu.

Mật độ thả từ 5-10 con/m2.

Trong quá trình nuôi nên thường xuyên sắp xếp lại các giá thể và thả thêm rong bổ sung thức ăn cho Bào ngư.

Sau 2-3 năm nuôi thì Bào ngư có thể đạt kích cỡ thương phẩm có thể tiến hành thu hoạch.


Sản phẩm khuyên dùng
Hàm lượng protein cao 27.2g/ 1 serving 30g chiếm tỉ lệ 90,6% với 100% Whey Protein Isolate tinh khiết.
Sản phẩm khuyên dùng
Hàm lượng protein cao 27.2g/ 1 serving 30g chiếm tỉ lệ 90,6% với 100% Whey Protein Isolate tinh khiết.
Hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc Bào Ngư cho người dân - Phần 1 Hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc Bào… Dạng hình nuôi bào ngư - Nuôi bào ngư bằng lồng trong bể xi măng Dạng hình nuôi bào ngư - Nuôi bào…