Ống Nano-Tube đột phá quan trọng về
công nghệ sục khí khuếch tán oxy trong nước

Kích thước lỗ nhỏ li ti trên ống Nano-Tube tạo ra kích thước bong bóng có đường kính nhỏ. Bọt khí nhỏ hơn sẽ chuyển oxy vào trong nước hiệu quả hơn (diện tích bề mặt nhiều hơn). Bọt khí nhỏ lơ lửng trong nước lâu hơn để tăng số lần chúng được đưa vào trong nước. Bọt khí nổi lên mặt nước chậm hơn thì tỷ lệ chuyển oxy cao hơn rất nhiều.

Nuôi tôm thành công

Giảm chi phí điện năng

Lợi ích của công nghệ Nano-Tube bao gồm giảm chi phí điện năng, tỷ lệ chuyển oxy/kWh cao hơn do bọt khí mịn. Sức cản không khí thấp kết hợp với hàng nghìn lỗ li ti trên ống nên điện năng sử dụng ít, hiệu suất chuyển oxy vào nước đạt hiệu quả cao.

Oxy hoà tan hiệu quả

Mức độ hoà tan oxy cao hơn và

oxy tầng đáy ao được cải thiện

rõ rệt, ống Nano-Tube chuyển oxy vào nước nhanh chóng và hữu hiệu. Là lựa chọn hàng đầu cho các trang trại nuôi trồng thuỷ sản mật độ cao hiện này nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước hiện nay.

Nhiều ưu điểm

Giảm chi phí năng lượng lên đến 75%
Không có bộ phận chuyển động, khấu hao thấp
Duy trì mức độ oxy hòa tan cao hơn
Chi phí đầu tư ban đầu thấp

Năng suất hơn

Cho phép mật độ nuôi cao hơn
Cho phép cho ăn thường xuyên hơn
Tăng trưởng nhanh hơn và giảm FCR
Lắp đặt đơn giản, bảo trì thấp

Sục khí nuôi tôm

Ống Nano-Tube đã được sử dụng thành công

với hàng loạt các loài nuôi trồng thủy sản và các hệ thống sản xuất. Cho dù bạn đang nuôi tôm hoặc nuôi cá, bất cứ nơi nào bạn đang sử dụng hệ thống sục khí truyền thống để tăng cường oxy trong nước, bạn có thể được hưởng lợi từ hiệu quả của

hệ thống sục khí Nano-Tube.

Nuôi tôm trong nhà kính

Ống Nano-Tube là lựa chọn ưu việt để tăng cường oxy hoà trong nước trên các trang trại nuôi tôm, nuôi cá, sản xuất giống, vận chuyển hải sản. Với những trang trại nuôi tôm mật độ cao, nuôi tôm công nghệ Biofloc việc duy trì nồng độ oxy trong nước cao là yêu cầu thiết yếu và giải pháp sử dụng hệ thống sục khí Nano-Tube đáng được đưa lên hàng đầu.

Bạn đã sẵn sàng để sở hữu Hệ thống sục khí Nano-Tube ?

Bạn còn do dự? Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.

Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản

Nuôi tôm thâm canh đã có từ năm 1986. Trong hệ thống nuôi tôm thâm canh nước mặn, độ pH và oxy hòa tan là hai thước đo chính, hệ số biến động tương ứng là 19.5-27.5 ‰, 7.4-8.2 và 4.66-8.25 mg/l. Thêm vào đó, amoniac -N tăng lên theo cấp số nhân với thời gian nuôi và tăng lên 6,5 mg/l sau 75 ngày nuôi trồng.

Mức độ oxy hòa tan thấp chính là nguyên nhân chính làm hạn chế thước đo chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản. Mức độ oxy hòa tan trong ao ở mức thấp nghiêm trọng khi tảo chết hàng loạt và sự phân hủy của tảo gây ra áp lực và là nguyên nhân tôm chết trong ao. Nồng độ oxy hòa tan thấp thường xuyên có thể làm giảm khả năng sinh trưởng, số lần cho ăn và lột xác của tôm.

Một hệ quả khác của việc nuôi trồng thủy sản đó chính là nồng độ biến đổi các chất nitrat, nitrit và ammonia ở mức cao. Mật độ cho ăn cao ở các trang trại nuôi tôm thâm canh tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các sinh vật phù du. Những sinh vật này già đi nhanh chóng và làm gia tăng nồng độ ammoniac trong ao. Môi trường với nồng độ amoniac cao gây gia tăng nồng độ nitrit. Cả ammoniac và nitrit đều gây nhiễm độc trực tiếp cho môi trường nuôi trồng hoặc gây căng thẳng cao cho các vật nuôi trong ao dẫn tới sự giảm khả năng kháng bệnh của vật nuôi.

Ammoniac tích tụ trong hệ thống nuôi trồng gây ra sự phân hủy các hợp chất hữu cơ nhờ vi sinh vật và tác động của việc bón phân. Sự phân hủy nhờ vi sinh vật dẫn đến nồng độ oxy thấp. Nồng độ oxy hòa tan thấp làm gia tăng độc tố của ammoniac đối với môi trường nuôi trồng. Trong dung dịch ammoniac, ammoniac tồn tại ở trạng thái cân bằng với amoniac ion hóa và các ion hydroxit. Dạng ion hóa thường khá độc hại vì nó có khả năng hòa tan chất béo cao và dễ dàng khuếch tán qua màng lọc. Ammoniac được dùng như nguồn cung cấp năng lượng cho vi khuẩn nitrat (Nitrasomonas và Nitrobactor) và bị oxy hóa thành nitrit và nitrat.

Có một sự liên quan mật thiết giữa chất lượng nước trong ao và môi trường xung quanh hồ nước. Sự xuống cấp của chất lượng nước sẽ nhanh hơn nếu kỹ thuật quản lý chất lượng nước thích hợp không được thực hiện trong hệ thống nuôi trồng thủy sản.

Oxy hòa tan trong nước

Oxy trong khí quyển vượt qua ranh giới mặt nước và không khí sau đó hòa tan vào nước. Cách duy nhất để đưa oxy vào nước đó chính là khuếch tán. Trong không khí, oxy chiếm một số lượng lớn, khi không khí được khuếch tán vào nước trong ao, nước trong ao được bão hòa với oxy còn gọi là oxy hòa tan. Nếu nước trong ao đạt độ bão hòa cao với oxy, oxy trong nước sẽ bay trở lại vào không khí. Nguyên nhân gây ra sự chuyển giao oxy giữa không khí và nước chính là do sự khác biệt về áp lực giữa oxy trong nước và oxy trong không khí. Khi tình trạng này đạt được sự cân bằng (áp lực oxy trong nước và áp lực oxy trong không khí là như nhau), sự chuyển giao oxy này không còn nữa. Lúc đó, oxy sẽ phải đi vào trong nước hoặc rời bỏ nước để lên nằm ở bề mặt nước ở ranh giới mỏng tiếp xúc giữa không khí và nước. Tùy vào mức độ thâm hụt hay thặng dư oxy, oxy sẽ gia nhập trở lại không khí hoặc nước. Đối với những vùng nước còn lại không bị tác động, việc chuyển giao oxy sẽ phụ thuộc vào mức độ thâm hụt hay thặng dư của mặt nước và không khí, diện tích tiếp xúc mặt nước, nhiệt độ và thời gian tiếp xúc. Tóm lại, tỷ lệ khuếch tán oxy phụ thuộc chủ yếu vào sự thiếu hụt oxy trong nước, lượng nước bề mặt tiếp xúc với không khí và mức độ chuyển động của chúng.

Thông thường, oxy hòa tan sẽ được đo đạc theo mg trên mỗi lít hoặc theo một phần triệu (trong khoa đo lường, ppm là đơn vị đo mật độ thường dành cho các mật độ tương đối thấp) với tỷ lệ 0 ppm đại diện cho tổng lượng oxy rút ra và 15 ppm đại diện cho nồng độ tối đa hoặc bão hòa.

Độ hòa tan của oxy trong nước sẽ sụt giảm nếu nhiệt độ nước tăng lên. Điểm thú vị đó chính là oxy hoạt động theo chu kỳ. Vượt qua ranh giới chuyển giao oxy, oxy hòa tan được hấp thụ bởi các loài thủy sinh để hỗ trợ sự trao đổi chất và bài tiết ra Carbon Dioxide (CO2). Khí CO2 giải phóng ra được sử dụng bởi thực vật và tái tạo lại oxy cho ao nhờ quá trình quang hợp. Các sinh vật thủy sinh một lần nữa sẽ tiêu thụ phần lớn số oxy này và phần còn lại sẽ được trả lại cho môi trường. Dường như có một mối quan hệ cộng sinh giữa các sinh vật dưới nước và các hình thức thực vật quang hợp.

Chu kỳ oxy và sự cân bằng oxy có thể bị ảnh hưởng bởi nhu cầu oxy sinh hóa của ao (B.O.D). Quá trình phân hủy xác các loại động thực vật có thể tiêu tốn một lượng lớn oxy. Rất quan trọng để nhận thức được rằng mức độ oxy hòa tan và chu kỳ sản sinh oxy có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của môi trường xung quanh: Một ngày nhiều mây ít nắng sẽ làm giảm quá trình quan hợp nhằm tạo ra oxy và oxy hòa tan. Tương tự, sự tăng cao nhiệt độ bất thường cũng sẽ làm giảm khả năng hòa tan của oxy trong nước từ đó làm thấp mức độ oxy hòa tan. Khi ao đạt đến trạng thái cân bằng, mức độ oxy hòa tan trong ao sẽ không thay đổi thất thường.

Oxy là một thông số môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sinh sản nhờ vào tác động trực tiếp của nó đến lượng tiêu thụ thức ăn, sự trao đổi chất của vật nuôi và tác động gián tiếp của nó đến điều kiện môi trường. Oxy ảnh hưởng đến tốc độ hòa tan và thành phần dinh dưỡng. Mức oxy hòa tan thấp có thể dẫn đến thay đổi trong trạng thái oxy hóa của một số chất từ oxy hóa sang một trạng thái đơn giản hơn. Thiếu oxy hòa tan có thể gây hại trực tiếp đến hệ sinh vật hoặc gây ra sự tăng lên đáng kể các chất độc trong quá trình trao đổi chất. Vì thế, việc duy trì một cách liên tục hàm lượng oxy hòa tan ở mức trên 3.5 ppm là cực kỳ quan trọng.

Trong không khí, oxy chiếm hơn 21%. Không khí đóng vai trò là một hồ chứa khổng lồ cho sự tập trung của oxy, khi ở trong môi trường nước, sự tập trung bị hạn chế bởi tính hòa tan của nó. Tính hòa tan của oxy như sau:

Giảm khi nhiệt độ tăng
Giảm theo cấp số nhân và gia tăng về độ mặn
Giảm với áp suất khí quyển thấp và độ ẩm cao
Tăng theo chiều sâu

Chiến lược để duy trì mức độ oxy hòa tan (DO) ở mức tối ưu đó chính là tận dụng các yếu tố quyết định đến sự tăng và giảm nồng độ DO. Sự quang hợp đóng vai trò chính trong việc sản xuất oxy, và sự hô hấp của các sinh vật sống trong ao chính là nguyên nhân chủ yếu trong việc tiêu thụ oxy. Nồng độ oxy trong ao cho thấy một đặc trưng của ao vào ban ngày, với đỉnh điểm của sự quang hợp xảy ra vào buổi trưa cho tới chiều và thấp nhất là vào lúc bình minh do cây cối bận hô hấp vào ban đêm và thải ra CO2. Mức độ biến động của DO rất nhỏ và gần mức độ DO bão hòa khi mật độ sinh vật phù du trong ao thấp và tăng khi mật độ sinh vật phù du tăng cao. Nên sục khí bổ sung vào ban đêm cho ao khi mức DO xuống thấp hơn 4.0 ppm.

Sự quang hợp của các sinh vật phù du đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần tăng lượng DO trong ngày và khuếch tán giúp làm tăng lượng DO khi DO trong ao dưới mức bão hòa vào ban đêm. Sự khuếch tán vào ban đêm là cực kỳ thuận lợi với sự hỗ trợ của các thiết bị sục khí. Các thiết bị này tiếp xúc với mặt nước nhiều nhằm cân bằng với lượng oxy trong không khí. Thông qua quá trình khuếch tán ngược, thiết bị sục khí ban ngày sẽ loại bỏ DO có mức hòa tan cao. Kết quả thu được đó chính là mức biến động DO vào ban ngày thấp tương tự như có sự hoạt động của sinh vật phù du. Đó chính là những điều kiện thuận lợi cho việc nuôi thâm canh tôm và tôm sú.

Sự quang hợp sản xuất oxy cũng có thể bị hạn chế khi sinh vật phù du chết hàng loạt. Hiện tượng này thường xuất hiện khi có giông bão. Khi đó, làm sạch xác sinh vật phù du phân hủy, cung cấp thiết bị sục khí bổ sung và sục khí thêm nếu cần thiết để duy trì DO ở mức tối ưu.

Khi mật độ sinh vật phù du trong nước tăng cao, nó sẽ làm hạn chế sự xuyên thấu của ánh sáng mặt trời xuống ao, từ đó làm giảm hiệu quả của quá trình quang hợp sản xuất oxy của thực vật dưới đáy ao. Nguyên nhân của việc này chính là do hàm lượng chất dinh dưỡng trong ao cao, lượng chất thải từ thức ăn và phân đọng lại dưới đáy ao. Điều này gây ra sự gia tăng số lượng vi khuẩn và các hoạt động trao đổi chất trong trầm tích đáy ở mức cao hơn mật độ chung của các vị trí khác trong ao. Do đó, lượng DO tiêu thụ sẽ cao hơn nhiều ở đáy ao. Sự khó khăn để chiếu sáng tới đáy ao và gia tăng tiêu thụ DO ở đáy có thể gây ảnh hưởng tới các phần khác của ao do suy giảm DO. Nếu mức DO giảm thấp hơn tiêu chuẩn, tác hại xấu lên tôm có thể xảy ra. Sự hạn chế ánh sáng mặt trời còn ảnh hưởng đến nhiệt độ của các lớp nước giữa bề mặt và đáy ao. Nhiệt độ phân tầng thường xảy ra vào buổi chiều. Khi trông coi ao cần chú ý sự khác biệt nhiệt độ lớn hơn 1 °C.

Có vẻ như sự xuất hiện của bệnh chuột rút (cong cứng) ở tôm càng xanh và tôm, dẫn tới chết tôm có liên quan tới việc thay đổi nhiệt độ đột ngột. Cần tăng cường lưu thông nước trong ao nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu sự phân tầng bằng máy khuấy.

Máy quạt nước nuôi tôm có khả năng nâng cao mức oxy hòa tan từ 0.05 đến 4.9 mg/l trong vòng 4 giờ đối với diện tích 0.5 hecta ao. Ngoài ra cũng có gợi ý rằng chúng ta cũng có thể cải thiện nồng độ oxy hòa tan trong ao nuôi trồng thủy sản một cách nhanh chóng nhờ kết hợp tác dụng của Công nghệ sục khí Nano-Tube, Máy sục khí O2-Turbine và thay nước trong ao.