Đơn giản và hiệu quả

Vỉ khuếch khi tán Hoa-Mai

một sản phẩm đầy sáng tạo giúp bạn trải nghiệm hệ thống cung cấp oxy cho ao nuôi tôm, nuôi cá đơn giản hơn, nhanh chóng và hiệu quả. Bạn sẽ không mất quá nhiều thời gian để làm vỉ khuếch tán, đơn giản hãy kết hợp phụ kiện Hoa-Mai với Ống khuếch tán Nano-Tube tạo nên vỉ khuếch tán khí gọn nhẹ, tiện lợi.

Vỉ Hoa-Mai
Sục khí ao tôm

Chi phí đầu tư cực thấp

Vỉ khuếch tán oxy Hoa-Mai

giúp bạn dễ dàng tùy biến theo cách của bạn. Vỉ Hoa-Mai hoàn toàn đáp ứng nhu cầu lắp đặt oxy đáy cho ao nuôi thuỷ sản, ương giống, vận chuyển hải sản tươi sống…

Ưu điểm Ống Nano-Tube

Giảm chi phí năng lượng lên đến 75%
Không có bộ phận chuyển động, khấu hao thấp
Duy trì mức độ oxy hòa tan cao hơn
Cho phép mật độ nuôi cao hơn
Cho phép tỷ lệ nuôi cao nhiều hơn
Cho phép cho ăn thường xuyên hơn
Tăng trưởng nhanh hơn và giảm FCR
Chi phí đầu tư ban đầu thấp

Ưu điểm Vỉ Hoa-Mai

Lắp đặt đơn giản nhanh chóng
Phù hợp tất cả loại hình ao hồ
Vệ sinh, bảo dưỡng dễ dàng
Tiết kiệm chi phí cực lớn

Ứng dụng Vỉ Hoa-Mai

Giai đoạn cuối cùng của sản xuất nuôi trồng thủy sản xuất hiện trong ao/hồ sinh trưởng nơi tôm con phát triển thành tôm trưởng thành. Trong quá trình nuôi tôm, thức ăn dư thừa lâu ngày tích tụ dưới đáy ao,

nguồn nước thiếu oxy đặc biệt tầng đáy ao

tạo điều kiện cho khí độc và mầm bệnh dễ phát triển. Các loại vi sinh, chế phẩm sinh học hoạt động kém hiệu quả khi lượng oxy cung cấp không đầy đủ, hệ quả môi trường nước mất cân bằng, tôm nổi đầu, ăn ít, chậm lớn, sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh. Vỉ Hoa-Mai giải pháp cung cấp oxy cho ao nuôi tôm hữu hiệu, tiết kiệm chi phí đầu tư, hiệu quả cao trong sử dụng.

Sục khí hồ tôm

Nuôi tôm ao đất

Chúng tôi mang đến trang trại của bạn giải pháp sục khí và sử dụng các thiết bị khuếch tán oxy hiệu quả cao chi phí đầu tư thấp, thời gian lắp đặt nhanh chóng và hiệu quả. Phân giải khí đôc, hạn chế bệnh phân trắng trên tôm.

Nuôi tôm lót bạt

Nuôi tôm thâm canh

Vỉ Hoa-Mai khuếch tán oxy rộng, chuyển giao oxy cao cho phép bạn nuôi mật độ cao hơn, tăng số lần cho ăn thường xuyên hơn, môi trường nước ổn định, tôm lớn nhanh, tiết kiện điện khi sử dụng.

Nuôi tôm thâm canh

Nuôi tôm trải bạt

Tăng năng suất và nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm. Sử dụng Vỉ Hoa-Mai tăng lượng oxy hoà tan hiệu quả, vi sinh hiếu khí hoạt động tích cực, môi trường nước cải thiện tích cực, pH ổn định, giảm khí độc.

Bạn đã sẵn sàng để sở hữu Vỉ Hoa-Mai ?

Bạn còn do dự? Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA OXY HÒA TAN TRONG VIỆC NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Hiện nay, quy mô công nghiệp sản xuất tôm ở hầu hết các quốc gia chủ yếu là nuôi tôm thẻ chân trắng. Sản lượng tôm sú giảm mỗi năm thì tương ứng với gia tăng sản lượng tôm thẻ. Các quốc gia chính vẫn còn sản xuất tôm sú với số lượng lớn gồm có Bangladesh, Việt Nam, Ấn Độ và Philippines. Hơn thế nữa, các quốc gia sản xuất tôm hàng đầu, như Thái Lan, Trung Quốc và Indonesia, hầu như chỉ sản xuất tôm thẻ chân trắng. Tại Việt Nam và Indonesia sản lượng tôm thẻ chân trắng đang tăng lên mỗi năm trong khi sản lượng của tôm sú lại tiếp tục giảm đi. Lý do chính cho của việc phổ biến nuôi tôm thẻ chân trắng là vì qua nhiều năm biến đổi gen đã dẫn đến một loại dễ nuôi, ngay cả trong điều kiện thâm canh thì vẫn tăng trưởng nhanh chóng và có kích thước phù hợp. Ngược lại, tôm sú có kết quả không phù hợp, mặc dù bây giờ có thể để có được tôm giống lò ấp chứ không phải từ tự nhiên. Hiệu quả kinh tế của tôm sú không thể so sánh với tôm thẻ chân trắng.

Hầu như tất cả các nước sản xuất cùng một loại tôm và đều có mục tiêu là xuất khẩu tôm. Ngoại lệ duy nhất là Brazil, nơi mà tôm thẻ chân trắng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong nước, bởi vì giá thành cao. Trung Quốc cũng sản xuất một lượng tôm đáng kể cho thị trường trong nước. Trong tương lai có khả năng là Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu tôm hơn do tỷ lệ phát triển kinh tế ở Trung Quốc cao. Bằng cách so sánh, hầu hết các cường quốc kinh tế lớn trên thế giới, như Mỹ, EU và Nhật Bản, tất cả đều trải qua thời kỳ suy thoái kinh tế. Nó có thể sẽ mất một thời gian dài trước khi nền kinh tế của họ phát triển mạnh mẽ trở lại. Những quốc gia này là những quốc gia nhập khẩu tôm chính trên thế giới. Điều này không chắc rằng sẽ có gia tăng mạnh mẽ trong nhu cầu tôm và giá sẽ tăng lên trong tương lai gần, trừ khi có một số vấn đề đột xuất, chẳng hạn như sự bùng phát bệnh hay thời tiết khắc nghiệt, trong một số các nước sản xuất tôm lớn, dẫn đến giảm nguồn cung cấp tôm tại thị trường thế giới. Đối với doanh nghiệp, nhà sản xuất tôm cần phải tìm cách để đảm bảo rằng sản lượng của ổn định, trong khả năng của hệ thống sản xuất của, và họ có thể kiểm soát chi phí sản xuất để duy trì cạnh tranh.

Chúng ta biết rằng chi phí thức ăn chiếm khoảng 40-50% trong tổng chi phí sản xuất tôm. Như vậy, những nỗ lực cắt giảm chi phí ở thường tập trung vào việc kiểm soát lượng thức ăn cho tôm để không có chất thải dư thừa hoặc không cần thiết. Quản lý thức ăn thích hợp sẽ duy trì chất lượng nước tốt trong ao nuôi dẫn đến đạt năng suất cao. Tuy nhiên, quản lý thức ăn tốt không phải là yếu tố duy nhất cần thiết để đảm bảo rằng tôm phát triển tốt. Nếu lượng oxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO) trong ao là quá thấp, tôm sẽ ăn ít hơn và sẽ có nhiều thực phẩm thừa. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các thông số khác của chất lượng nước, và nếu chất lượng nước giảm xuống dẫn đến tôm yếu và dễ bị nhiễm trùng do vi khuẩn. Các điều kiện này gây ra tỷ lệ sống thấp. Khi oxy hòa tan trong nước thấp, tốc độ tăng trưởng của tôm chậm và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) là rất cao. Phải mất nhiều thời gian để hoàn thành một vụ tôm hơn khi oxy hòa tan thấp. Chúng ta có thể thấy rằng trong giai đoạn 2010-2011, có rất nhiều vấn đề hơn với bệnh do vi khuẩn hơn so với trước. Trong quá khứ, nhiễm trùng do vi khuẩn ít khi là một vấn đề với nuôi tôm thẻ chân trắng. Điều này chỉ ra rằng có cái gì đó sai hoặc một cái gì đó thiếu sót trong việc thực hành quản lý nuôi trồng thủy sản đang được áp dụng ở hiện tại. Thông thường là có vấn đề trong việc cho tôm ăn quá mức. Thức ăn dư thừa gây ra sự tích tụ các chất thải trong ao nuôi, trong đó khuyến khích sự tăng trưởng của vi khuẩn gây bệnh Vibrio. Khi oxy hoặc oxy hòa tan trong ao ở mức thấp trong suốt thời gian nuôi, thì có khả năng tôm sẽ bị bệnh.

Nồng độ oxy hòa tan (DO) thích hợp cho tôm phát triển bình thường là trên 4mg/lít (ppm) lên đến điểm bão hòa. Lượng khí oxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Khi nhiệt độ cao hơn thì nước có khả năng giữ ít oxy. Đối với nuôi tôm thì tốt nhất duy trì nồng độ oxy hòa tan (DO) trong khoảng 6-8 mg/lít, hoặc trên 4 mg/lít trong suốt thời gian nuôi. Trong thực tế, trên hầu hết các trang trại nuôi chỉ giữ hàm lượng oxy hòa tan cao trong tháng đầu tiên hoặc hai tháng đầu của mùa vụ. Ở một số trang trại, một khi tôm được 30 ngày tuổi trở lên, khoảng ban đêm, hàm lượng oxy hòa tan giảm xuống dưới mức 3mg/lít (3ppm) từ khoảng nửa đêm đến sáng sớm trước khi bình minh. Tình trạng này được tìm thấy trên các trang trại nuôi quảng canh không có thiết bị sục khí và trang trại nuôi bán thâm canh hoặc đôi khi trong trại nuôi thâm canh.

Hầu hết các trang trại nuôi tôm, nồng độ oxy hòa tan thích hợp vào ban ngày là ở trên 4 ppm. Vào những ngày trời nắng, các thực vật phù du trong nước quang hợp và tạo ra oxy. Ở các ao có lượng thực vật phù du trong nước lớn thì nồng độ oxy hòa tan có thể tăng lên trên 10 ppm vào buổi chiều. Điều này thường xảy ra ở các trại nuôi thâm canh có độ mặn thấp và lượng sinh vật phù du sinh cao, và các thiết bị sục khí được tắt vào ban ngày khi trời nắng nóng. Tuy nhiên, ngay cả ở các trang trại khi mà nồng độ oxy hòa tan vào ban ngày là khá cao thì sau khoảng 21:00 đêm mức oxy vẫn bắt đầu giảm vì sự hô hấp của các sinh vật phù du, tôm và các vi sinh vật sẽ làm phân huỷ chất hữu cơ. Nồng độ oxy hòa tan giảm xuống rất thấp từ khoảng nửa đêm đến sáng sớm. Trong khoảng thời gian trước bình minh thì lượng oxy hòa tan có thể xuống đến 3-4 ppm, 2-3 ppm hoặc thậm chí thấp hơn 2 ppm tại một số trang trại. Đây cũng là tình trạng của các trang trại rộng lớn không có thiết bị sục khí và mật độ nuôi tôm thấp, và các trang trại bán thâm canh với mật độ từ 30-60 con/m2 nhưng sụt khí với công suất chỉ có 6-18 hp/hecta. Lượng DO thường giảm xuống khoảng 2-3 ppm hoặc thậm chí thấp hơn nhiều lần vào ban đêm. Tôm phát triển chậm, tỷ lệ sống thấp và FCR tăng cao. Tôm sẽ phát triển tốt hơn ở các ao nuôi có nồng độ oxy cao.