Máy thổi khí AT chuyên biệt hơn

Sản phẩm được sản xuất theo yêu cầu chuyên biệt để phục vụ

sục khí trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, nuôi tôm thâm canh, nuôi cá

Môi trường khắc nghiệt của nước mặn, không khí ẩm trên các trang trại là thách lớn với sản phẩm chúng tôi. Sau hơn 8 năm triển khai thành công, đến nay sản phẩm Máy thổi khí AT đã có mặt khắp các trang trại nuôi tôm, nuôi thuỷ sản tại Việt Nam.

Máy thổi khí AT được sử dụng để sục khí cho các ao ương tôm.

Máy thổi khí AT được sử dụng để sục khí cho các ao nuôi tôm thương phẩm.

Máy thổi khí

Thiết kế chuyên biệt

Máy thổi khí AT có cấu tạo vỏ gang, trục vít (roto) chất liệu bằng thép chất lượng cao, gọn nhẹ, dễ dàng di chuyển. Thiết kế tối ưu hóa để nâng cao hiệu quả với áp suất, lưu lượng khí tạo ra cao, áp suất nén mạnh, tiết kiệm điện khi sử dụng.

Khoang nhớt chứa các nhông của Máy thổi khí AT tách biệt với khoang tạo khí do vậy không khí nén ra luôn sạch sẽ. Hơn nữa, bạc đạn của chúng tôi lắp đặt trong máy sử dụng loại tốt nhất, đảm bảo cho thời gian hoạt động liên tục nhiều giờ.

Máy thổi khí AT được ưa chuộng và sử dụng rất phổ biến trong nuôi trồng thuỷ sản hiện nay. Một lý do phổ biến Máy thổi khí AT là không khí tạo ra là không khí sạch, bởi khoang tạo khí tách biệt hoàn toàn với bộ phận buồng nhớt, trọng lượng gọn nhẹ, dễ dàng di chuyển giữa các khu vực trong trang trại.

Ưu điểm vượt trội của Máy thổi khí AT

Để giảm thiểu sai sót do con người thực hiện, nâng cao độ chính xác của trục vít và máy hoạt động hiệu quả, các bộ phận của Máy thổi khí AT được thiết kế tinh gọn và chính xác cao.

Vỏ thân máy có các rãnh lớn không chỉ tăng cường chức năng hoạt động của máy mà còn ngăn chặn các tác động bên ngoài như va đập có thể gây ảnh hưởng cho máy hoạt động.

  • Dải áp suất và lưu lượng rộng

  • Cung cấp không khí hoàn toàn sạch

  • Độ rung thấp, vận hành êm ái

  • Hệ nén trục vít mạnh mẽ

  • Trục vít 2 thùy nằm ngang

  • Roto được thiết kế đặc biệt

  • Đơn giản, cấu trúc gọn

  • Hoạt động liên tục, bền bỉ

Bạn đã sẵn sàng để sở hữu Máy thổi khí AT ?

Bạn còn do dự? Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.

Mức độ đậm đặc của oxy hòa tan trong ao nuôi trồng thủy sản

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc duy trì nồng độ oxy hàng ngày tối thiểu trên 3mg/L trong ao nuôi cá da trơn và tôm he sẽ giúp tiêu thụ nhiều thức ăn và giúp vật nuôi tăng trưởng tốt hơn so với ao có nồng độ oxy hòa tan thấp. Không có số liệu rõ ràng về việc tỷ lệ chuyển đổi thức ăn bị ảnh hưởng bởi mức độ oxy hòa tan thấp vào buổi sáng sớm. Cá rô phi chịu được mức độ oxy hòa tan thấp hơn cá da trơn và tôm nhưng không thấp hơn 1mg/L.

Nồng độ oxy hòa tan thấp được công nhận là nguyên nhân chính gây căng thẳng, chán ăn, tăng trưởng chậm, khiến vật nuôi dễ mắc bệnh và tăng tỷ lệ tử vong ở thủy sản. Mức độ oxy hòa tan tối thiểu trong hệ thống ao nuôi chính là mối quan tâm lớn nhất hiện tại.

Mức oxy hòa tan có thể cao trong suốt 24 tiếng, nhưng sự phản ứng của các vật nuôi lại chủ yếu bị ảnh hưởng chủ yếu do mức oxy hòa tan thấp về đêm. Tuy nhiên, mức độ oxy hòa tan tối thiểu có thể chấp nhận được cho các loài thủy sản nước ấm vẫn chưa được phát triển.

Một số dữ liệu đáng chú ý hiện có là về ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan trên các loài vật thủy sinh nước ấm, đặc biệt là trên cá da trơn, tôm he và cá rô phi. Ví dụ, một tài liệu nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ xem xét sự tăng trưởng của cá ở các mức nồng độ oxy hòa tan tối thiểu khác nhau.

Tài liệu đó cho thấy với mức độ oxy bão hòa dưới 50%, tốc độ tăng trưởng giảm dần và trở nên cực kì chậm khi nồng độ oxy hòa tan tối thiểu giảm. Với nhiệt độ nước 26 độ C, nước ngọt với tỷ lệ oxy bão hòa 50% chứa khoảng 4mg/L oxy hòa tan. Nồng độ này có thể cao hơn so với thực tế được duy trì vào các buổi sáng sớm ở hầu hết các ao nuôi trồng thủy sản nước ấm.

Nghiên cứu cá da trơn (cá tra)

Một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Georgia cho thấy rằng cá da trơn được nuôi ở mức độ bão hòa 36 và 60% oxy hòa tan sẽ ăn và tăng trưởng ít hơn cá tra được nuôi ở mức độ bão hòa 100%. Trong 1 cuộc thử nghiệm, cá được nuôi trong môi trường 60% bão hòa chuyển đổi thức ăn thành sinh khối hiệu quả hơn khi ở mức 36%, nhưng trong 1 cuộc thử nghiệm khác, sự khác biệt lại không rõ ràng. Đối với môi trường nước ngọt với nhiệt độ 26 độ C, độ bão hòa 36 và 60% tương đương mức độ oxy hòa tan là 2.91 và 4.85 mg/L.

Các nghiên cứu tại Đại học Auburn với cá da trơn cho thấy tỷ lệ sống, sản xuất và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCRs) cao hơn trong ao khi nồng độ oxy tối thiểu trung bình hàng ngày không xuống dưới mức 3,5mg/L. Sự chuyển đổi thức ăn đặc biệt bị ảnh hưởng bởi nồng độ oxy hòa tan vào sáng sớm. Cá được cho ăn theo một thời gian biểu mà không được điều chỉnh khi cá biến ăn hoặc tử vong.

Mức FCR thấp hơn để đáp ứng với nồng độ oxy hòa tan vào sáng sớm lớn hơn trong những cuộc thử nghiệm là hệ quả 1 phần từ việc cho ăn quá nhiều khi nồng độ oxy hòa tan trong ao xuống thấp dẫn đến việc cá hấp thụ ít thức ăn và tăng tỷ lệ tử vong. Thông thường, tỷ lệ tử vong của vật nuôi trong ao thường không bị phát hiện và việc cho ăn được thực hiện nếu không xảy ra tình trạng tử vong. Cần chú ý tầm quan trọng của việc điều chỉnh tỷ lệ thức ăn trong ao phù hợp với tình trạng cá và tỷ lệ tử vong. Khi không nắm rõ mức độ tử vong, nên theo dõi cẩn thận và tránh cho ăn nhiều hơn lượng cá có thể hấp thu.

Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Bộ Nông Nghiệp Mỹ ở Mississippi tiết lộ rằng tỷ lệ FCR không bị ảnh hưởng bởi nồng độ oxy hòa tan hàng ngày tối thiểu là 2mg/L. Tuy nhiên, cá ăn nhiều hơn và tăng trưởng tốt hơn trong ao nơi nồng độ oxy hòa tan không giảm xuống dưới 3mg/L.

Nuôi Tôm

Trong một thí nghiệm về việc cho tôm ăn được tiến hành tại Trung tâm Nuôi trồng hải sản Peteet Claude ở Alabama, Mỹ, tôm được thả với tỷ lệ 33 con hậu ấu trùng/m2, ao ba tầng được sục khí ở 3 tỷ lệ khác nhau để cung cấp mức oxy hòa tan khác nhau vào buổi sáng. Tỷ lệ sống, tỷ lệ sản xuất và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn được cải thiện tương ứng với nồng độ oxy hòa tan tối thiểu cao hơn.

Tuy nhiên, với thí nghiệm nuôi cá tra tại Đại học Auburn, tôm trong ao với nồng độ oxy thấp hơn vào buổi sáng có thể đã được cho ăn quá nhiều vì không rõ tỷ lệ tử vong trong ao. Sự kiện riêng lẻ này có thể dẫn tới việc tỷ lệ FCR trong ao cao hơn với nồng độ oxy hòa tan thấp.

Nuôi cá rô phi

Một thí nghiệm về cho ăn cũng được tiến hành trên cá rô phi ở trong 1 ao tại Honduras với 3 phương pháp: không thông khí kĩ thuật, kiểm soát; máy sục khí được bật khi mức oxy hòa tan xuống mức 10% và 30% độ bão hòa.

Không có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ sống giữa các phương pháp nhưng cá có kích thước và sản lượng lớn hơn khi áp dụng phương pháp sục khí hơn là kiểm soát. Kích thước cá và sản lượng là tương tự ở 2 phương pháp sục khí.

Sục khí đáy ao

Ao tôm và cá da trơn được sục khí có nồng độ oxy hòa tan tối thiểu hàng ngày dưới 3mg/L, thông thường tỷ lệ này xuống dưới 2mg/L. Cung cấp sục khí cho ao để làm tăng tỷ lệ oxy hòa tan sẽ giúp cải thiện tỷ lệ sống, lượng thức ăn tiêu thụ và sản lượng và còn có thể làm tăng tỷ lệ FCR.

Phân tích kinh tế sơ bộ cho thấy chi phí bổ sung cho điện và chi phí thiết bị cho hệ thống sục khí cố định sẽ được bù đắp nhiều hơn nhờ vào trọng lượng cá tăng và tăng doanh thu sản xuất. Ao cá rô phi thường không được sục khí, nhưng việc thông khí sẽ mang lại lợi ích cho ao nơi có nồng độ oxy hòa tan thường giảm xuống dưới 1 mg/L.