22-03-2013 20:36:25
 

Sản Xuất Cá Giống Trong Tỉnh Cung Chưa Đủ Cầu Ở Dak Lak

Dak Lak được đánh giá là tỉnh nuôi trồng thủy sản phát triển nhất trong khu vực Tây Nguyên, với diện tích 9 nghìn ha. Năm 2012, sản lượng thủy sản Dak Lak đạt 14.450 tấn, lượng cá bột sản xuất 970 triệu con, nhưng số con giống sản xuất tại chỗ chỉ đạt 46 triệu con, mới đáp ứng được 59% nhu cầu con giống trong tỉnh.
 
Chưa khai thác hết tiềm năng

san xuat ca giong
Các cơ sở sản xuất giống đang gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất cũng như nguồn giống.

Với hệ thống sông, hồ tự nhiên khá đa dạng, Dak Lak được đánh giá là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển thủy sản nước ngọt, đặc biệt là sản xuất cá giống; là tỉnh có nghề sản xuất cá giống phát triển nhất Tây Nguyên, với 9 cơ sở sản xuất giống cấp I, tổng công suất thiết kế khoảng 1,4 tỷ con cùng với hàng trăm cơ sở ương san khác. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và dòng chảy, các cơ sở sản xuất và các hồ ương san cá giống đều có nguồn nước thanh lọc tự nhiên nên việc sản xuất giống ít bị rủi ro về bệnh tật, là nguồn cung lớn về con giống cho người nuôi thủy sản trong khu vực.

Tuy nhiên, trên thực tế khả năng khai thác của các cơ sở nêu trên mới chỉ đạt khoảng 54 - 68% tổng công suất thiết kế. Với công suất này, lượng cá bột sản xuất hàng năm dao động từ 750 - 970 triệu con các loại, trong đó số cá bột được giữ lại để ương san tại chỗ chiếm một phần nhỏ (15 - 25%), phần lớn số cá còn lại được xuất bán ra các tỉnh khác trong nước. Vùng sản xuất cá giống cấp I tập trung chủ yếu ở các trại cá thuộc Công ty Cổ phần thủy sản Dak Lak, với diện tích ao nuôi vỗ cá bố mẹ và ao cá hậu bị khoảng 15 ha. Tuy là tỉnh có nghề sản xuất cá giống đứng đầu trong khu vực, nhưng các công trình sinh sản nhân tạo chủ yếu được thiết kế dựa theo công nghệ Trung Quốc, đến nay đã xuống cấp, không còn đáp ứng được yêu cầu sản xuất.

Các đàn cá bố mẹ hiện nay đều lấy ở các đàn cá được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, chưa được cung cấp nguồn giống gốc, giống thuần bảo đảm chất lượng. Thêm vào đó, mặc dù có 9 cơ sở sản xuất giống cấp I, nhưng thực tế năm 2012 chỉ còn 6 cơ sở tham gia sản xuất; số cơ sở ương san cũng giảm còn 56 cơ sở (giảm 144 cơ sở so với năm 2011) do đó lượng cá giống cũng giảm mạnh. Hình thức ương chủ yếu là hộ gia đình nhằm phục vụ nhu cầu nuôi thương phẩm của gia đình và cung cấp cho người dân địa phương. Hàng năm, lượng cá giống sản xuất được chỉ đáp ứng khoảng 48 - 59% nhu cầu trong tỉnh, còn lại phải nhập từ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL.
 
Sớm có giải pháp

Thực tế cho thấy nhu cầu về con giống cho phát triển nuôi trồng thủy sản của Dak Lak là rất lớn, nhưng khả năng cung ứng giống tại chỗ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần đây, ngành thủy sản tỉnh bước đầu đã nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế hoặc các nguồn từ trung ương đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp cho ngành.

Tuy nhiên, việc tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất giống nói riêng và thủy sản nói chung chưa nhiều. Trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai một số đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất giống và ương nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế cao, bản địa, đặc hữu như: cá lăng đuôi đỏ, cá thát lát…, nhưng khả năng ứng dụng chưa cao do hạn chế về cơ sở hạ tầng và trình độ kỹ thuật. Mặc dù nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản được thực hiện từ nuôi các đối tượng truyền thống đến các đối tượng mới như: cá rô phi đơn tính, cá lóc, cá bống tượng, ếch thái lan… nhưng không thể mở rộng sản xuất vì khó khăn về con giống.

Đây cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc đầu tư và thu hút đầu tư phát triển ngành thủy sản của tỉnh và gây khó khăn trong việc dịch chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua. Theo ông Nguyễn Huy Điền, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, để khai thác tốt tiềm năng về sản xuất con giống ở Tây Nguyên nói chung và Dak Lak nói riêng thì cần phải có các giải pháp đồng bộ từ Trung ương xuống địa phương để tháo gỡ khó khăn trên. Trước mắt, cần sớm xây dựng các Trung tâm giống thủy sản, gồm: Trung tâm giống Quốc gia, Trung tâm giống cấp tỉnh nhằm bảo đảm lưu giữ nguồn gen thủy sản, xây dựng và duy trì các đàn giống gốc, giống thuần để cung cấp đàn cá bố mẹ chất lượng cao cho các trại giống và tham gia sản xuất giống chủ lực phục vụ cho nuôi trồng thủy sản.

Đối với Dak Lak, các loài cá truyền thống là đối tượng nuôi chính và là đối tượng sản xuất giống chủ lực, tính riêng lượng cá bột sản xuất hàng năm của tỉnh từ 700 - 950 triệu con, nếu được giữ lại 100% phục vụ cho ương san tại chỗ thì mới đủ cung cấp cá giống cho cả tỉnh. Do vậy, giải pháp đưa ra là cung cấp đàn giống bố mẹ bảo đảm chất lượng cho các cơ sở sản xuất giống trong tỉnh; tiến hành rà soát, chọn lọc đàn cá bố mẹ và mở rộng diện tích ương san cá giống tại chỗ; lưu giữ giống gốc, giống thuần… Để làm được điều này cần có sự quan tâm của chính quyền địa phương về chính sách hỗ trợ và thu hút các dự án về phát triển thủy sản trên địa bàn.

 
 
Đánh giá bài viết:  1 of 5 2 of 5 3 of 5 4 of 5 5 of 5
0
Tổng số  0
5 star:
4 star:
3 star:
2 star:
1 star:

Máy O2-TURBINE®

Máy quạt nước nuôi tôm

Máy thổi khí

Tôm sú là loài động vật có máu lạnh, nhiệt độ cơ thể của tôm có thể thay đổi trong một khoảng nhiệt độ giới hạn. Tuy nhiên tôm sẽ bị yếu, sốc và có thể chết hàng loạt nếu các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột vượt khỏi giới hạn cho phép.
Ưu điểm khi sử dụng các bể ương là có thể nuôi thương phẩm từ cỡ tôm giống lớn hơn, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm và tăng sản lượng. Ở Braxin rất phổ biến việc sử dụng bể vòng để ương vì nó giúp nước lưu thông đều hơn và ít tích tụ cặn bẩn hơn.
Thoạt nghe, ai cũng thấy lạ vì từ trước đến nay nói đến chuyện nuôi tôm hùm, mọi người Việt Nam đều nghĩ đến những lồng, bè tôm lênh đênh trên biển. Nhưng công nghệ nuôi tôm hùm trên bờ, trong bể xi măng đã phát triển ở nhiều nước như Úc, Mỹ, Singapore, Nhật Bản... Và nay, PV NNVN đã được “mục sở thị” mô hình hết sức mới mẻ này tại trại nuôi tôm sú post của ông Hồ Mòn – Phú Thịnh – Cam Phú – Cam Ranh - Khánh Hoà.
Bên cạnh tôm sú và tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh (TCX) đã và đang khẳng định được hiệu quả trong quá trình nuôi trồng; được nhiều người chọn nuôi, do ít rủi ro dịch bệnh và hiệu quả ổn định.
Nhiễm trùng vi khuẩn trên tôm he chủ yếu do tôm bị stress vì các tổn thương do điều kiện môi trường kém hoặc do hóa chất. Sự thâm canh hóa trong nuôi tôm làm tôm dễ bị stress kết quả tôm dễ bị nhiễm bệnh.
Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao bởi hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về khoáng chất và vitamin. Con cua được xem là đối tượng nuôi xoá đói giảm nghèo của bà con ngư dân vùng biển.
Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau thực hiện mô hình trình diễn nuôi sò huyết thương phẩm bãi bùn ven sông.
Bể xi măng hoặc bể trải bạt phải có che bớt ánh sáng bằng lưới chắn để nhiệt độ trong bể nuôi không quá 32 độ C , thích hợp ở nhiệt độ 27 - 29 độ C, độ mặn từ 30 - 35‰, những ngày mưa lớn cần xả bớt nước tầng mặt và giữ không cho độ mặn giảm xuống dưới 20‰, mực nước bể nuôi giữ từ 40m -100cm, tốt nhất là từ 50-80cm, không nên giữ mực nước nước sâu quá, gây khó khăn trong quá trình quan sát hoạt động của ốc, cũng như vớt thức ăn thừa.
Bào ngư là một trong những loài loài động vật thân mềm có giá trị xuất khẩu cao. Hiện nay bào ngư được nuôi rộng rãi ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước và mang lại giá trị kinh tế rất cao. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc một số tư liệu về một bệnh trên bào ngư do virus gây ra và cách phòng ngừa bệnh trên vật nuôi này.
Mỗi năm các tỉnh ĐBSCL cần tới hàng tỷ con giống. Trà Vinh năm 2010 cần 500 tấn, Tiền Giang 500 tấn, Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu lớn nhất khu vục với trên 3.000 ha nhưng lượng giống khai thác trong tự nhiên cũng chỉ đáp ứng 70% nhu cầu.
Đầm Nha Phu nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang chừng hơn 20km về phía Bắc, diện tích mặt nước vào khoảng 4.000ha tuỳ theo thuỷ triều lên xuống
Những bộ lưới này nên được thiết kế để chúng không cản trở việc bơi và đẻ trứng của cá măng. Bên cạnh đó, chúng cũng nên dễ dàng dọn rửa bằng tay. Tùy thuộc vào kích thước của ao hay bể, mất khoảng 1-3 giờ để thu gom được khoảng 90% số trứng.