19-12-2010 21:32:34
 

Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Trong Ao Nước Ngọt

Thí nghiệm nuôi sản lượng cao tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) trong ao nước ngọt
Tạp chí KHCN Thuỷ Sản - 1/2003
 Nghề cá nước ngọt Trung Quốc số ra ngày 5/9/2002 - Hà Trang

thi-nghiem-nuoi-san-luong-cao-tom-the-chan-trang-trong-ao-nuoc-ngot

Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) đã được đưa vào nuôi thử nghiệm trong ao nước ngọt trong thời gian từ tháng 6 - 9/2001 tại trại nuôi cá chình ở thị trấn Bạch Ðường, khu Hàn Giang, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Dưới đây là kỹ thuật và các kết quả nghiên cứu nuôi thử nghiệm chúng tôi giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

1. Ðiều kiện ao và nguồn nước

Chọn 6 ao, bờ gạch nền, đáy bùn cát, giữa ao có chỗ đáy trũng thoát gọi là hõm thoát bẩn, dùng ống ngầm dẫn tới mương thoát nước bên ngoài ao, bốn xung quanh ao nghiêng về phía hõm thoát bẩn để tiện thoát bẩn, mỗi ao nuôi diện tích là 0,05 hm2ưư, ao sâu 1,4m, ở cửa cấp nước bố trí lưới lọc 80 mắt, phòng địch hại tôm vào ao. Mỗi ao phải chuẩn bị hai máy sục khí 0,75kw.

Làm sạch ao bằng cách dùng vôi sống 3.000kg/hm2(hm = 100m) hoà với nước rải khắp ao để tiêu độc, giết chết các loài cá tạp dữ và những sinh vật địch hại khác, sau đó phơi nắng nửa tháng rồi cho nước vào ao ở mức 60 cm, giữ độ mặn nước khoảng 10/00 .

2. Ðiều tiết chất nước, tạo thức ăn cơ sở

Bón phân toàn ao với nitơrat amônium (NH4NO3 19,5 kg/hm2, supephốtphát 9 kg/hm2, hai ngày làm một lần, sau đó bón đuổi phân. Sau 10 ngày, màu nước trở thành màu vàng chanh, độ chiếu sáng 25 35 cm.

3. Chuẩn bị giống

Trước 20 ngày thả giống, đặt tôm giống vào nuớc ao của trại nuôi vỗ giống có độ mặn khoảng 10/00, yêu cầu trước khi đưa giống vào khoảng 10 ngày từng bước làm ngọt hoá, giữ độ mặn không thay đổi. Thời gian ngọt hoá, thân tôm khoẻ, nhanh nhẹn, không bệnh, không bị tổn thương bên ngoài.

4. Thả giống

Giống tôm được ngọt hoá bước đầu chứa trong túi nilông bơm oxy và để ở trong thùng xốp hình chữ nhật, sau khi chở đến trại, trước khi thả nhẹ cả túi vào trong ao nửa giờ đồng hồ, để thích ứng với nhiệt độ nước rồi mới mở túi. Trước khi thả tôm vào ao, cho tôm tắm 10 phút trong dung dịch iốt 20 mg/l, để riêng 200 con cho vào túi lưới sợi nilông 80 mắt để tiện theo dõi tình hình sinh trưởng của tôm.

Tình hình thả giống cụ thể như bảng sau:  

Nhóm tổ Số liệu ao Diện tích (hm2)

Giống thả

Số lượng thực thả (con) Mật độ (vạn con/ hm2)
I 1 0.05 4 80
I 2 0.05 4 80
II 3 0.05 4 >80
II 4 0.05 4 >80
III 5 0.05 4 >80
III 6 0.05 4 >80

5. Sự quản lý hàng ngày

5.1. Khống chế chất nước

Trong tuần đầu thả giống phải giữ mực nước ao khoảng 60 cm, trong vòng ngày đầu giữ độ mặn của nước ao ổn định, sau đó cấp thêm nước dần dần từng bước để làm ngọt hoá. Ðồng thời theo độ lớn của tôm, tăng nhiệt độ, từng bước cấp thêm nước cho mức nước cao 1,2 m. Sau 50 ngày, mỗi ngày thay nước từ 5 20 cm cho đến khi thu hoạch, lượng nước thay hằng ngày theo nguyên tắc giữ nước ổn định ở màu vàng chanh hoặc màu nâu nhạt, độ chiếu sáng là 25 30 cm, cứ 15 ngày cho một lần vôi sống 20 mg/l để ổn định độ pH và bổ sung canxi, nhiệt độ nước 21 - 330C, pH = 7,4 ~ 8,6, oxy hoà tan 5 mg/l, amônium - nitơ < 0,50 mg/l.

5.2. Cho ăn

Trong 20 ngày thả giống cần chú ý bồi dưỡng nước, sinh vật phù du trong ao tương đối phong phú thì không phải cho ăn, chỉ bổ sung một số luân trùng, thịt vẹm Sau 20 ngày cho tôm ăn thức ăn tổng hợp, mỗi ao bố trí hai sàn thức ăn bằng lưới nilông 80 x 80 cm để tiện kiểm tra tình hình tôm ăn và sinh trưởng của chúng, thức ăn tổng hợp mỗi ngày cho vào lúc 6.00 giờ, 17.00 giờ, 22.00 giờ. Năm ngày đầu rải đều thức ăn toàn ao, những ngày sau cho ăn ra bốn xung quanh ao. Lượng thức ăn tăng giảm tuỳ theo khả năng ăn của tôm và tình hình thay đổi của môi trường nước. Theo dõi thời gian ăn ở 3 thời điểm : đầu, giữa và cuối. Cứ vào khoảng nửa tháng cho dùng loại pôlyvitamin 30/00 - 50/00 và bột xương trong 3 ngày, và ở mặt ngoài của viên thức ăn tẩm một lớp dầu đậu tương tương hoặc dầu lạc để phòng thuốc bị hoà tan.

5.3. Kiểm tra thường xuyên

Hằng ngày, sáng, trưa, chiều phải đi tuần ao một lần, định kỳ kiểm tra độ mặn của nước ao, oxy hoà tan, chỉ số pH và làm tốt việc ghi chép quản lý hàng ngày, cứ 15 ngày kiểm tra chiều dài tôm, cân nặng của tôm một lần, phát hiện những đột biến để kịp thời xử lý. Nếu phát hiện nổi đầu phải lập tức thay nước mới hoặc chạy máy tăng oxy. Cần kiểm tra túi lưới lọc ở cửa cấp nước thường xuyên để tránh bị rách, đề phòng cá tạp vào ao. Trong 35 ngày nuôi lưu lý tăng cường lượng oxy trong nước đầy đủ ( 5 mg/l), nhất là trong những ngày râm trời, thời tiết oi bức, càng phải kéo dài thời gian chạy máy sục khí để phòng tránh tôm nổi đầu.

5.4. Phòng trừ bệnh

Theo dõi nước hằng ngày, kiểm tra tình hình hoạt động và sức khoẻ của tôm, cứ mỗi 6 10 ngày rải vôi sống 15 20 mg/l, clorin giàu 0,2 mg/l, clorin điôxit 0,3 0,8 mg/l, thuốc sát trùng 0,8 x 10 mg/l, iốt 0.5 x 10 1,0 mg/l để tiêu độc

6. Kết quả thí nghiệm

Giống tôm thả có chiều dài bình quân 0,8 cm, nuôi sau 135 ngày thu được hiệu quả tương đối tốt, sản lượng từ 7.200 11.034 kg/hm2 tỷ lệ sống 63 80%, quy cách thương phẩm 58 70 con/kg, lợi nhuận 3.840 7.724 vạn tệ/hm2, tỷ lệ đầu vào đầu ra là 1 : 1,50 á1: 1,78. Xem bảng dưới đây:

Nhóm tổ Số liệu ao Lượng thức ăn (kg) Ðầu vào (tệ) Kết quả Lợi nhuận (vạn tệ/hm2) Tỷ lệ đầu vào, đầu ra
Tổng trọng lượng Quy cách (con/kg) Sản lượng (kg/hm2) Giá trị sản lượng (tệ)
I 1 783,4 4.965 551,70 58 11.034 8.827 7,7240 >1 : 1,78
I 2 734,6 4.713 506,65 60 10.133 8.106 6,7860 >1 : 1,72
II 3 797,1 4.567 471,00 62 9.419 7.536 5,9380 >1 : 1,65
II 4 715,2 4.741 480,00 60 9.600 7.680 5,8780 >1 : 1,62
III 5 582,4 4.060 388,25 68 7.765 6.212 4,3040 >1 : 1,53
III 6 547,2 3.840 360,00 70 7.200 5.760 3,8400 >1 : 1,50

7. Những điểm cần lưu ý

7.1. Nuôi luyện ngọt hoá giống

Tôm thẻ chân trắng là loại tôm gốc ở Nam Mỹ chịu độ mặn trong một biên độ rộng, muốn cho nó tồn tại và sinh trưởng trong nước thuần ngọt thì giống tôm thả nuôi phải nuôi luyện ngọt hoá một cách khoa học, đó là mấu chốt của việc nuôi chúng trong nước ngọt. Cho dù giống tôm đã được ngọt hoá bước đầu ở trại giống, sau khi thả vào ao vẫn phải luyện ngọt hoá dần dần. Nồng độ tương đối của nước ao nuôi ở trại giống ngọt hoá là khoảng 10/00. Trước khi thả giống vào ao, nhiệt độ nước chênh lệch không quá 20C. Trong ngày đầu giữ cho mật độ nước ao không thay đổi, để cho giống tôm có quá trình thích ứng dần, có thể bảo đảm tỷ lệ sống.

7.2. Chất nước

Do thí nghiệm này dùng nước sông chất lượng không được tốt nên quá trình nuôi có ô nhiễm một phần, nước nuôi giàu dinh dưỡng hoá. Trong thí nghiệm nuôi, dùng vi khuẩn quang hợp để cải thiện chất nước, hiệu quả rõ rệt (khoảng 10 ngày thả một lần), lượng dùng là 2 6 mg/l để giữ cho chất nước ổn định, nhưng không được dùng đồng thời với vôi sống vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt. Lưu ý khi thời tiết liên tục oi bức, âm u và mưa, hiệu quả sử dụng không tốt, tránh dùng.

7.3. Cho ăn

Ao nuôi phải có đài quan sát cho ăn, và phải căn cứ vào thời tiết, chất nước và tình hình hoạt động của tôm mà cho ăn với lượng thức ăn thích hợp, sao cho không có thức ăn thừa. Trong thời kỳ sinh trưởng mạnh mẽ, tốt nhất cho ăn thêm loại thức ăn tươi như ốc, hến đã đập nát, cá tạp

7.4. Phòng trị bệnh và loại bỏ địch hại

Phải hết sức coi trọng việc phòng trị bệnh hại, thường dự phòng định kỳ. Khi mua giống phải chọn mua giống khoẻ mạnh không có bệnh tao la (TSV) và bệnh đốm trắng. Nuôi trong nước ngọt tránh thay nước mang theo ký sinh trùng trung gian, phòng ngừa bệnh có tính bạo phát lan truyền qua nguồn nước, định kỳ tiêu độc nước bằng cách dùng thuốc thức ăn, do đó toàn bộ quá trình thí nghiệm nuôi không phát sinh bệnh hại nghiêm trọng. Nuôi sau 40 - 50 ngày, nếu trong ao quá nhiều sinh vật địch hại như cá vược phải dùng khô hạt chè 10 - 15 mg/l tiêu diệt.

 
 
Đánh giá bài viết:  1 of 5 2 of 5 3 of 5 4 of 5 5 of 5
0
Tổng số  0
5 star:
4 star:
3 star:
2 star:
1 star:

Máy O2-TURBINE®

Máy quạt nước nuôi tôm

Máy thổi khí

Tôm sú là loài động vật có máu lạnh, nhiệt độ cơ thể của tôm có thể thay đổi trong một khoảng nhiệt độ giới hạn. Tuy nhiên tôm sẽ bị yếu, sốc và có thể chết hàng loạt nếu các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột vượt khỏi giới hạn cho phép.
Ưu điểm khi sử dụng các bể ương là có thể nuôi thương phẩm từ cỡ tôm giống lớn hơn, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm và tăng sản lượng. Ở Braxin rất phổ biến việc sử dụng bể vòng để ương vì nó giúp nước lưu thông đều hơn và ít tích tụ cặn bẩn hơn.
Thoạt nghe, ai cũng thấy lạ vì từ trước đến nay nói đến chuyện nuôi tôm hùm, mọi người Việt Nam đều nghĩ đến những lồng, bè tôm lênh đênh trên biển. Nhưng công nghệ nuôi tôm hùm trên bờ, trong bể xi măng đã phát triển ở nhiều nước như Úc, Mỹ, Singapore, Nhật Bản... Và nay, PV NNVN đã được “mục sở thị” mô hình hết sức mới mẻ này tại trại nuôi tôm sú post của ông Hồ Mòn – Phú Thịnh – Cam Phú – Cam Ranh - Khánh Hoà.
Bên cạnh tôm sú và tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh (TCX) đã và đang khẳng định được hiệu quả trong quá trình nuôi trồng; được nhiều người chọn nuôi, do ít rủi ro dịch bệnh và hiệu quả ổn định.
Nhiễm trùng vi khuẩn trên tôm he chủ yếu do tôm bị stress vì các tổn thương do điều kiện môi trường kém hoặc do hóa chất. Sự thâm canh hóa trong nuôi tôm làm tôm dễ bị stress kết quả tôm dễ bị nhiễm bệnh.
Cua biển rất phổ biến do nhu cầu rất lớn của nó trong thị trường xuất khẩu. Quy mô thương mại nuôi cua biển đang phát triển nhanh chóng cùng các khu vực ven biển của Andhra Pradesh, Tamil Nadu, Kerala và Karnataka (các bang nằm ở miền Nam , Ấn Độ).
Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau thực hiện mô hình trình diễn nuôi sò huyết thương phẩm bãi bùn ven sông.
Bể xi măng hoặc bể trải bạt phải có che bớt ánh sáng bằng lưới chắn để nhiệt độ trong bể nuôi không quá 32 độ C , thích hợp ở nhiệt độ 27 - 29 độ C, độ mặn từ 30 - 35‰, những ngày mưa lớn cần xả bớt nước tầng mặt và giữ không cho độ mặn giảm xuống dưới 20‰, mực nước bể nuôi giữ từ 40m -100cm, tốt nhất là từ 50-80cm, không nên giữ mực nước nước sâu quá, gây khó khăn trong quá trình quan sát hoạt động của ốc, cũng như vớt thức ăn thừa.
Bào ngư là một trong những loài loài động vật thân mềm có giá trị xuất khẩu cao. Hiện nay bào ngư được nuôi rộng rãi ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước và mang lại giá trị kinh tế rất cao. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc một số tư liệu về một bệnh trên bào ngư do virus gây ra và cách phòng ngừa bệnh trên vật nuôi này.
Mỗi năm các tỉnh ĐBSCL cần tới hàng tỷ con giống. Trà Vinh năm 2010 cần 500 tấn, Tiền Giang 500 tấn, Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu lớn nhất khu vục với trên 3.000 ha nhưng lượng giống khai thác trong tự nhiên cũng chỉ đáp ứng 70% nhu cầu.
Đầm Nha Phu nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang chừng hơn 20km về phía Bắc, diện tích mặt nước vào khoảng 4.000ha tuỳ theo thuỷ triều lên xuống
Những bộ lưới này nên được thiết kế để chúng không cản trở việc bơi và đẻ trứng của cá măng. Bên cạnh đó, chúng cũng nên dễ dàng dọn rửa bằng tay. Tùy thuộc vào kích thước của ao hay bể, mất khoảng 1-3 giờ để thu gom được khoảng 90% số trứng.