Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Trên Vùng Cát Ven Biển

Nhằm hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, hạn chế về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh xảy ra khi nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng cát. Đồng thời thực hiện Quyết định số 1514/QĐ-UBND ngày 11 tháng 5 năm 2009 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt quy hoạch ngắn hạn nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng đất cát ven biển của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam. Chi cục Nuôi trồng thủy sản hướng dẫn nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng cát như sau:

nuoi-tom-the-chan-trang-tren-vung-cat-ven-bien

I. NHỮNG QUY ĐỊNH BẮT BUỘC XÂY DỰNG AO NUÔI:

1. Hệ thống ao nuôi:

- Ao nuôi phải được xây dựng phù hợp với điều kiện thực tế, dựa trên bản thiết kế chi tiết đã được phê duyệt, diện tích ao nuôi từ 2000-3000m2/ao

- Bờ ao rộng 2m, độ sâu nước trong ao nuôi từ 1.5-2.m. Bờ  và đáy ao được lót bạc chống thấm HDPE loại tốt. Dọc bờ ao phải xây dựng 01 hố ga dạng hình hộp với kích thước 1.5m x 1m x 2m để đưa nước thải từ ao nuôi ra ao xử lý.

2. Hệ thống cấp nước mặn, lợ:

- Các tổ chức, cá nhân (Hộ nuôi) tham gia nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát tuyệt đối không được đóng giếng nước ngọt tại vùng nuôi để lấy nước ngọt nhằm pha loãng độ mặn.

- Nước mặn, lợ được lấy trực tiếp từ biển hoặc mép ngoài đê bao biển, cách chân đê tối thiểu 5m. Mỗi cụm nuôi hoặc từng ao bố trí một trạm bơm hoặc máy bơm để bơm nước vào ao nuôi.

- Hệ thống cấp nước: Các chủ hộ khi xây dựng hệ thống cấp nước tránh chồng chéo gây cản trở giao thông. Tốt nhất mỗi cụm từ 6-10ao xây dựng một hệ thống cấp nước bằng đường ống chính D114-D200mm hoặc xây dựng mương cấp bằng bê tông (có thể xây bằng gạch). Từ hệ thống cấp này, mỗi ao có đường ống nhánh để cho nước vào ao nuôi.

- Hệ thống cung cấp nước (đường ống, máy bơm nước mặn, lợ...) phải được bố trí hợp lý. Toàn bộ hệ thống ao nuôi (kể cả ao chứa lắng, ao xử lý nước thải) được lót bạt chống thấm và đảm bảo cao trình phù hợp cho việc cấp và thoát nước hiệu quả, tránh nước thấm lậu xuống nền cát gây mặn hóa nước ngọt ngầm.

3. Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải:

 Ao xử lý nước thải được bố trí theo cụm, mỗi ao nuôi có hệ thống thoát nước bằng ống PVC có đường kính từ 100-200mm được nối vào các hố ga xây dựng dọc theo bờ ao. Từ hố ga nước thải được thu gom về ao xử lý chung của từng cụm theo đường ống thoát (Φ từ 120-200mm) hoặc ống BTCT D300-400. Sau khi được lắng và xử lý đạt tiêu chuẩn, nước thải sẽ đưa ra biển bằng tuyến ống BTCT D600. Tuyến cống tiêu nước thải sẽ được bố trí âm dưới đất.

4.  Về cam kết bảo vệ môi trường:

Từng hộ nuôi phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường (theo biểu mẫu của phòng Tài nguyên & Môi trường huyện hướng dẫn) và nghiêm túc thực hiện theo cam kết.

II. HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÙNG CÁT:

1. Chuẩn bị ao nuôi:

- Đối với ao mới xây dựng, trước hết cần bơm nước vào ao, rửa sạch bạt để loại độc tố từ bạt chống thấm vào môi trường nước. Sau đó tháo cạn nước để rửa ao.

- Ðối với ao đã nuôi tôm (phát triển tự phát nhưng nằm trong vùng quy hoạch và có cam kết bảo vệ môi trường), sau mỗi vụ nuôi cần nạo vét hết bùn dơ đưa vào khu xử lý chung để xử lý. Rửa sạch ao trước khi cấp nước.

2. Xử  lý nước:

Sau khi đã chuẩn bị ao xong, tiến hành bơm nước. Nước cấp vào ao phải được lọc bởi lưới lọc có kích thước nhỏ để ngăn ngừa trứng, các loài cá và các động vật khác vào ao nuôi. Sau khi cấp đủ nước vào ao nuôi, xử lý nước bằng các hóa chất diệt khuẩn như BKC, Iodin,... có sục khí. Sau thời gian xử lý từ 2-4 ngày (tùy từng loại hóa chất) thì có thể gây màu nước.

3. Gây màu nước:

- Có thể dùng các loại phân vô cơ, chế phẩm vi sinh, lên men nguyên liệu,...để gây màu nước.

- Màu nước tốt cho việc thả tôm giống là màu nâu hoặc màu vàng xanh.

- Gây màu nước nên được thực hiện trong thời tiết nắng ấm.

- Thời gian gây màu khoảng 4-5 ngày, chú ý khi màu nước trong ao lên tốt thì mới tiến hành thả giống.

- Trong quá trình xử lý và gây màu nước cần kiểm tra pH, độ kiềm...để điều khiển các yếu tố này nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi.

4. Chọn và thả tôm giống:

a. Chọn giống:

- Không mua tôm giống không rõ nguồn gốc và không có giấy chứng nhận kiểm dịch.

- Tôm giống nên mua ở những cơ sở có uy tín (con giống đồng đều, không nhiễm bệnh, chất lượng ổn định) như của công ty CP Việt Nam, công ty Việt Úc, công ty Anh Việt, công ty Trường Thịnh...

- Tôm giống cần được kiểm tra bệnh virus đốm trắng (WSSV), hội chứng Taura (TSV), bệnh MBV bằng phương pháp PCR trước khi mua. Tuyệt đối không mua đàn tôm giống  không rõ nguồn gốc, tôm giống bị dương (+) tính với WSSV, TSV và nhiễm MBV.

b. Thả tôm giống:

- Trước khi thả tôm cần kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, độ mặn...giữa trại giống và ao nuôi. Nếu có sự khác biệt thì phải điều chỉnh thích hợp để tránh sốc cho đàn giống.

- Giống nên thả lúc sáng sớm hoặc chiều tối, lúc nhiệt độ thấp trong ngày. Tránh thả tôm khi trời nắng nóng, nhiệt độ nước cao hoặc khi trời có mưa. Cần ngâm túi giống trong ao nuôi khoảng 10-15 phút sau đó thả tôm vào ao nuôi.

- Mật độ thả nuôi từ 100-150con/m2.

5. Chăm sóc, quản lý:

a. Quản lý thức ăn:

- Chủ hộ nuôi nên chọn các loại thức ăn có chất lượng tốt, các nhãn hiệu có uy tín và có thương hiệu trên thị trường để cho tôm ăn.

- Cho tôm ăn phải hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm, trạng thái hoạt động của tôm.

- Tính toán lượng thức ăn hằng ngày cho tôm dựa vào các yếu tố sau:

+ Kiểm tra lượng tôm trong ao,

+ Kích cỡ của tôm,

+ Tình trạng sức khỏe và quá trình lột xác của tôm,

+ Chất lượng nước trong ao,

+ Việc dùng thuốc và hóa chất trong thời gian qua.

- Số lần cho ăn từ 3-5 lần/ngày tùy theo điều kiện cụ thể.

- Trong quá trình cho tôm ăn cần bổ sung các chất dinh dưỡng vào thức ăn như vitamin C, các khoáng chất,...Tuyệt đối không được dùng các loại hóa chất và kháng sinh cấm trong ao nuôi tôm.

- Điều khiển thức ăn hợp lý thì hệ số thức ăn (FCR) thấp và nên ở phạm vi FCR=1 (sử dụng 1kg thức ăn thu được 1kg tôm thương phẩm).

- Thường xuyên dùng nhá, chài để kiểm tra thức ăn tiêu thụ hàng ngày và lượng tôm, kích cỡ tôm để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.

b. Sục khí Oxy:

Nuôi tôm thẻ chân trắng với hình thức bán thâm canh, thâm canh đòi hỏi phải sục khí, quạt khí liên tục nhằm cung cấp đủ hàm lượng oxy hòa tan cho tôm nuôi. Thời gian sục khí, quạt khí tăng dần theo thời gian nuôi.

Ngưng sục khí trong khoảng thời gian cho tôm ăn.

6. Quản lý các yếu tố môi trường nước:

Yêu cầu các yếu tố môi trường, màu nước trong ao nuôi thích hợp và duy trì ổn định:

+ Nhiệt độ từ 20-32oC,

+ Độ mặn từ 5-30%o, tốt nhất từ 10-20%o,

+ pH từ 7.8 -8.5 và giao động sáng chiều không quá 0.5,

+ Oxy hòa tan duy trì trên 4mg/l,

+ Độ trong từ 30-50cm,

+ Màu nước xanh vàng, vàng nâu.

Do vậy, trong quá trình nuôi cần điều chỉnh các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi.

7. Phòng ngừa dịch bệnh:

Thường xuyên theo dõi các hoạt động của tôm hằng ngày, kiểm tra tăng trưởng  kết hợp kiểm tra dấu hiệu bệnh lý của tôm. Các bệnh thường gặp trên tôm thẻ chân trắng là hội chứng Taura (TSV), bệnh đốm trắng (WSSV), các bệnh do vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật. Hạn chế bệnh trên tôm nuôi bằng biện pháp phòng ngừa tổng hợp liên quan đến cả quá trình tổ chức sản xuất từ khâu chọn con giống chất lượng, sạch bệnh đến quản lý tốt môi trường ao nuôi và cho ăn đúng phương pháp.

8. Thu hoạch

Sau thời gian nuôi từ 75-90 ngày, tôm nuôi đạt kích cỡ thương phẩm từ 60-100 con/kg thì tiến hành thu hoạch. Dùng te điện để thu tôm, tôm thu hoạch được rửa sạch và bảo quản lạnh ngay.

9. Hồ sơ ghi chép và thành lập các tổ quản lý:

a. Hồ sơ ghi chép:

Việc ghi chép và lưu giữ hồ sơ liên quan đến quá trình nuôi là rất quan trọng và cần thiết nhằm mục đích:

+ Phục vụ cho việc kiểm soát môi trường và dịch bệnh trong suốt vụ nuôi và để tích lũy kinh nghiệm cho vụ nuôi tiếp theo.

+ Phục vụ cho cơ quan thẩm quyền kiểm tra, đánh giá và phục vụ cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Hộ nuôi cần lưu ý ghi chép các thông tin sau:

- Công tác cải tạo ao nuôi, chọn và thả giống.

- Theo dõi các diễn biến môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, tình trạng sức khoẻ tôm nuôi, các biến đổi của thời tiết (mưa, gió, bão,...) nhằm quản lý, kiểm soát và có biện pháp kỹ thuật phù hợp.

- Ghi chép cụ thể việc sử dụng thuốc, hoá chất, thức ăn, thức ăn bổ sung và hiệu quả sử dụng.

b. Thành lập các tổ quản lý:

- Các nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng cát nên thành lập nhóm, tổ để cùng tổ chức sản xuất (mua tôm giống, bán sản phẩm...), đặc biệt là các hộ trong cùng cụm nuôi và khu vực sử dụng chung ao xử lý nước thải.

-  Nhóm, tổ cộng đồng cần tổ chức sản xuất đồng loạt trên tinh thần dân chủ, có trách nhiệm và nhất là việc cam kết bảo vệ môi trường chung, thực hiện nuôi theo đúng quy định.

Trên đây là hướng dẫn về nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng cát ven biển của Chi cục NTTS Quảng Nam, đề nghị các địa phương quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn và phổ biến cụ thể đến từng vùng nuôi, người nuôi để việc tổ chức sản xuất đúng quy định và mang lại hiệu quả cao, hạn chế ô nhiễm môi trường.

 
 
Đánh giá bài viết:  1 of 5 2 of 5 3 of 5 4 of 5 5 of 5
0
Tổng số  0
5 star:
4 star:
3 star:
2 star:
1 star:

Máy O2-TURBINE®

Máy quạt nước nuôi tôm

Máy thổi khí

Tôm sú là loài động vật có máu lạnh, nhiệt độ cơ thể của tôm có thể thay đổi trong một khoảng nhiệt độ giới hạn. Tuy nhiên tôm sẽ bị yếu, sốc và có thể chết hàng loạt nếu các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột vượt khỏi giới hạn cho phép.
Ưu điểm khi sử dụng các bể ương là có thể nuôi thương phẩm từ cỡ tôm giống lớn hơn, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm và tăng sản lượng. Ở Braxin rất phổ biến việc sử dụng bể vòng để ương vì nó giúp nước lưu thông đều hơn và ít tích tụ cặn bẩn hơn.
Thoạt nghe, ai cũng thấy lạ vì từ trước đến nay nói đến chuyện nuôi tôm hùm, mọi người Việt Nam đều nghĩ đến những lồng, bè tôm lênh đênh trên biển. Nhưng công nghệ nuôi tôm hùm trên bờ, trong bể xi măng đã phát triển ở nhiều nước như Úc, Mỹ, Singapore, Nhật Bản... Và nay, PV NNVN đã được “mục sở thị” mô hình hết sức mới mẻ này tại trại nuôi tôm sú post của ông Hồ Mòn – Phú Thịnh – Cam Phú – Cam Ranh - Khánh Hoà.
Bên cạnh tôm sú và tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh (TCX) đã và đang khẳng định được hiệu quả trong quá trình nuôi trồng; được nhiều người chọn nuôi, do ít rủi ro dịch bệnh và hiệu quả ổn định.
Nhiễm trùng vi khuẩn trên tôm he chủ yếu do tôm bị stress vì các tổn thương do điều kiện môi trường kém hoặc do hóa chất. Sự thâm canh hóa trong nuôi tôm làm tôm dễ bị stress kết quả tôm dễ bị nhiễm bệnh.
Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao bởi hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về khoáng chất và vitamin. Con cua được xem là đối tượng nuôi xoá đói giảm nghèo của bà con ngư dân vùng biển.
Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau thực hiện mô hình trình diễn nuôi sò huyết thương phẩm bãi bùn ven sông.
Bể xi măng hoặc bể trải bạt phải có che bớt ánh sáng bằng lưới chắn để nhiệt độ trong bể nuôi không quá 32 độ C , thích hợp ở nhiệt độ 27 - 29 độ C, độ mặn từ 30 - 35‰, những ngày mưa lớn cần xả bớt nước tầng mặt và giữ không cho độ mặn giảm xuống dưới 20‰, mực nước bể nuôi giữ từ 40m -100cm, tốt nhất là từ 50-80cm, không nên giữ mực nước nước sâu quá, gây khó khăn trong quá trình quan sát hoạt động của ốc, cũng như vớt thức ăn thừa.
Bào ngư là một trong những loài loài động vật thân mềm có giá trị xuất khẩu cao. Hiện nay bào ngư được nuôi rộng rãi ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước và mang lại giá trị kinh tế rất cao. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc một số tư liệu về một bệnh trên bào ngư do virus gây ra và cách phòng ngừa bệnh trên vật nuôi này.
Mỗi năm các tỉnh ĐBSCL cần tới hàng tỷ con giống. Trà Vinh năm 2010 cần 500 tấn, Tiền Giang 500 tấn, Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu lớn nhất khu vục với trên 3.000 ha nhưng lượng giống khai thác trong tự nhiên cũng chỉ đáp ứng 70% nhu cầu.
Đầm Nha Phu nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang chừng hơn 20km về phía Bắc, diện tích mặt nước vào khoảng 4.000ha tuỳ theo thuỷ triều lên xuống
Những bộ lưới này nên được thiết kế để chúng không cản trở việc bơi và đẻ trứng của cá măng. Bên cạnh đó, chúng cũng nên dễ dàng dọn rửa bằng tay. Tùy thuộc vào kích thước của ao hay bể, mất khoảng 1-3 giờ để thu gom được khoảng 90% số trứng.