Sò huyết

 | 23:47 NGÀY 06/05/2016

Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Sò Huyết

 Lưu bài viết này
Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Sò Huyết

Ở nước ta, sò huyết phân bố dọc ven biển nhưng tập trung ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang. Sò huyết phân bố tự nhiên ở các bãi triều nông đến độ sâu 4m với thời gian phơi bãi từ 6-10 giờ/ngày đêm, có nền đáy là bùn mịn hoặc bùn cát giàu chất hữu cơ, độ mặn từ 20-30‰. Nghề nuôi sò huyết bắt đầu từ năm 1990. Sản lượng khai thác khoảng 17.000-20.000 tấn, trong đó Kiên Giang có sản lượng lớn nhất cả nước.

ky-thuat-san-xuat-giong-so-huyet

Tổng diện tích bãi triều đang sử dụng nuôi sò mới chỉ trên 2000 ha mặc dù diện tích tiềm năng có thể phát triển nuôi trong cả nước là khoảng 50.000 ha. Nguồn sò huyết phục vụ cho nuôi sò thương phẩm hoàn toàn từ khai thác tự nhiên, nguồn lợi này đang cạn kiệt nhanh chóng do nhu cầu tiêu thu trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng. Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu quy trình kỹ thuật sản xuất nhân tạo giống sò huyết do Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III nghiên cứu và hoàn thiện.

1. Chuẩn bị cơ sở nuôi:
Hệ thống sản xuất giống sò huyết gồm:
- 1 bể lọc 2 (m3)
- 1 bể chứa nước 20 (m3)
- 1 bể đẻ hình cầu, đáy trắng 1 (m3)
- 1 bể ương ấu trùng nổi 18 (m3)
- 1 bể ương ấu trùng đáy 90 (m3)
- 1 bể nuôi cấy tảo 12 (m3)

2. Tuyển chọn sò bố mẹ và nuôi vỗ thành thục
Sò bố mẹ phải có kích thước trên 25 mm theo chiều dài vỏ, tuyến sinh dục ở giai đoạn III,IV.
Nuôi sò bố mẹ trong bể xi măng, cho ăn 2 lần /ngày các loại tảo đơn bào Chaetoceos sp, Nanochloropsis sp, Platymonas sp., Isochrysis sp. với mật độ 20.000 tế bào/ml. Có thể bổ sung thức ăn tổng hợp, bột ngũ cốc, men bánh mì, tảo khô… Tiến hành sục khí và thay nước hàng ngày. Thời gian nuôi vỗ từ 2-5 ngày.

3. Kích thích phóng tin, đẻ trứng
Phơi sò dưới nắng râm từ 120-240 phút, sau đó kích thích bằng dòng nước chảy mạnh và liên tục từ 30-180 phút. Kích thích đẻ trong bể đẻ 1m3 bằng Composite với đáy trắng. Quan sát thấy sò mở miệng và thò chân ra ngoài thì dừng kích thích.

4. Thu trứng
Nước biển qua xử lý cơ học và EDTA 10ppm cấp vào bể đẻ. Sau khi sò phóng tinh trứng và đẻ trứng khoảng 3-5 phút thì tiến hành chuyển trứng bằng dòng tự chảy qua lưới lọc 100 µm vào bể ương với miệng ống hút trứng cách đáy bể đẻ 15-25 cm nhằm loại bỏ chất thải của sò bố mẹ lơ lửng trong nước và trứng non, chất cặn bã lắng đáy. Đồng thời vừa hút san trứng vừa cấp thêm nước vào bể đẻ để kích thích sò tiếp tục đẻ trứng và làm loãng mật độ trứng, tinh trùng nhằm tránh hiện tượng đa tinh trùng, đóng vón trứng do mật độ quá cao.

5. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nổi
- Tiêu chuẩn về môi trường nước trong bể ương ấu trùng: nước trong sạch, không nhiễm bẩn, xử lý EDTA 10ppm, pH 7,5-8,5, độ mặn: 20-25‰.
- Quản lý và chăm sóc ấu trùng nổi Veliger
Mật độ ương: 2 con/ml
Thức ăn: tảo đơn bào Nanochloropsis sp. mật độ 3000 tế bào/ml. Cho ăn 2 lần/ngày (8h và 14h). Sử dụng thức ăn tổng hợp, men bánh mì, tảo khô khi thiếu tảo.
Siphon đáy và thay 30-50% nước 1 lần/ngày
Quan sát hoạt động và dinh dưỡng của ấu trùng hàng ngày qua kính hiển vi. Điều chỉnh lượng thức ăn thông qua quan sát lượng thức ăn có trong ruột ấu trùng.
Đo kích thước ấu trùng để theo dõi sự sinh trưởng.
Thuần hoá độ mặn thấp dần xuống 20‰ vào cuối giai đoạn sống trôi nổi (ấu trùng có điểm mắt).
- Chuẩn bị chất đáy và chuyển ấu trùng
Bùn non lọc sạch các loài địch hại như ốc xoắn, các tạp chất.
Ngâm thuốc tím 10ppm và rửa sạch trước khi đưa vào bể.
Chuẩn bị bể ương ấu trùng sống đáy: cho bùn vào bể, dày 2-5 cm
Cấp nước có độ mặn 20‰ vào bể trước khi san ấu trùng 4-7 ngày.
Siphon đáy bể ấu trùng nổi.
Lọc ấu trùng bằng lưới 100 µm chuyển sang bể đã chuẩn bị sẵn chất đáy bùn.

6. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bò và sò con
Kiểm tra số lượng ấu trùng biến thái chuyển xuống sống đáy, đáy bùn và ấu trùng còn sống trôi nổi.
Thay nước hàng ngày từ 40-60 % thể tích bể/ngày.
Sục khí 24/24h.
Hạn chế tối đa các thao tác gây sục bùn đáy.
San thưa đảm bảo mật độ ương giống 6000-8000 con/m2 khi giống đạt kích thước > 2mm.
Cho ăn hỗn hợp tảo đơn bào Chaetoceros sp., Isochrysis sp., Platymonas sp., Nanochloropsis sp. với mật độ 10.000 tế bào/ml, ngày 2 lần. Sử dụng thức ăn tổng hợp, bột ngũ cốc, tảo khô… những khi thiếu tảo.

7. Thu sò giống
Thu hoạch sò giống khi đạt kích thước 5-7 mm.
Chuẩn bị dụng cụ thu hoạch: thùng, chậu nhựa dung tích 15l, 20l, có đường kính miệng rộng, lưới động vật phù du.
Phương pháp thu hoạch: dùng ống xiphong hút bùn và sò con dưới đáy bể, lọc bùn qua sàng lưới giữ lại sò con.
Xác định trọng lượng, kích thước trung bình của sò con thu hoạch.

8. Vận chuyển
Vận chuyển khô, để ẩm (thời gian vận chuyển không quá 2 giờ) hoặc đóng trong túi nilon bơm ôxy (thời gian vận chuyển trên 2 giờ)

9. Nuôi cấy tảo đơn bào làm thức ăn cho sò huyết
- Phân lập giống: giống được phân lập bằng 2 phương pháp chính:
+ Phương pháp pha loãng: mẫu tảo bị lẫn tạp được pha loãng bằng nước nuôi cấy sao cho chỉ có một hoặc vài tế bào trong ống nghiệm. Sau đó lặp lại với những ống nghiệm có tảo cần lấy phát triển nhiều và tốt nhất.
+ Phương pháp phân lập trên môi trường thạch: cấy tảo trên môi trường thạch 1,5%, sau đó để các đãi thạch dưới ánh sáng 2 đèn neon, khi thấy các khuẩn lạc xuất hiện thì kiểm tra bằng kính hiển vi đề chọn khuẩn lạc tốt nhất và chuyển sang môi trường lỏng. Phương pháp này rất có hiệu quả đối với các loài tảo xanh.
- Môi trường dinh dưỡng: đối với từng nhóm tảo khác nhau thì sử dụng các môi trường nuôi khác nhau. Các loài tảo đơn bào là thức ăn thích hợp cho sò huyết thuộc 3 nhóm tảo chính là tảo xanh, tảo khuê, tảo vàng.

Môi trường dinh dưỡng sử dụng cho nuôi sinh khối các loài tảo đơn bào 

Hoá chât 

Tảo xanh

Tảo khuê

Tảo vàng

Đạm

100

70

30

Lân

10

6

6

Urê

10

4

5

Axit citric

15

7

7

Fe3+

4

2

1

Vitamin B1, B12

 

 

0,05-0,1

Silic 5

 

5

 

Tảo xanh bao gồm các loài tảo: nanpchloris atomus, Chlorella sp., Dunaliella salina, platymonas sp., tetraselmis suecica, heterogloea sp., nanochloropsis oculata.
Tảo khuê gồm các loài tảo Chaetoceros calcitrans, chaetoceros gracilis, Chaetoceros muelleri, navicula sp.
- Điều kiện nuôi:
+ Trong phòng: tảo được nuôi trong ống nghiệm, bình tam giác (125ml, 500ml, 1000ml), bình 10l, 20l dưới ánh sáng đèn neon 40W, nhiệt độ 24-270C, S‰: 27-32‰.
+ Ngoài trời: tảo được nuôi trong thùng nhựa trắng 160l, các bể ciment 1m3, dưới ánh sáng và nhiệt độ tự nhiên.
Môi trường tối ưu để nuôi các loại tảo như sau: 

ĐK nuôi

Cường độ ánh sáng (lux)

Nhiệt độ (0C)

Độ mặn (‰)

pH

Tên giống

 

 

 

 

Platymonas

5000-10000

25-28

30-35

7.5-8.5

Dunaliella

2000-6000

30-40

25-28

7.5-8.5

Nanno

1000-2000

25-30

30-32

7.5-8.5

Chlorella

1000-2000

25-28

30-32

6.0-8.0

Chaetoceros

6000-8000

25-35

20-25

8.0-9.0

TIN MỚI
  • Phương pháp mới dựa trên PCR để phát hiện bệnh tôm
    Phương pháp mới dựa trên PCR để phát hiện bệnh tôm

    Một phương pháp dựa trên PCR để phát hiện Hội chứng tử vong sớm (EMS) của tôm, được phát triển bởi một nhóm nghiên cứu ở Đài Nam, Đài Loan do tiến sĩ Chu-Fang Lo, trưởng Khoa Khoa học đời sống tại Đại học Quốc gia Cheng Kung (NCKU) dẫn đầu, phối hợp với tiến sĩ Tim Flegel từ Thái Lan, đã được trường đại học này công bố.

  • Giải pháp khắc phục bệnh chết sớm ở tôm nhờ Monoglycerin
    Giải pháp khắc phục bệnh chết sớm ở tôm nhờ Monoglycerin

    Các nhà nghiên cứu hiện nay đã xác định được nguyên nhân gây ra căn bệnh huyền bí đã khiến 1/10 sản lượng tôm của các ao nuôi ở khu vực châu Á bị thiệt hại trong vòng 2 năm qua.

  • Tiếng ồn của tàu thuyền có ảnh hưởng tiêu cực tới cua
    Tiếng ồn của tàu thuyền có ảnh hưởng tiêu cực tới cua

    Một nghiên cứu mới được công bố trên Biology Letters phát hiện thấy rằng tiếng ồn từ tàu ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cua, phần lớn cua ở trong tình trạng tồi tệ nhất, và có rất ít bằng chứng cho thấy cua thích nghi được với tiếng ồn theo thời gian.

  • Nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh ở tôm chân trắng
    Nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh ở tôm chân trắng

    Một nhóm các nhà khoa học từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Thực phẩm (CIAD) đang tiến hành việc xác định loại vi khuẩn ảnh hưởng đến đường tiêu hóa của tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) và làm cho loài này mắc bệnh.

  • Phế phẩm tôm và cua giúp ngăn chặn dầu tràn
    Phế phẩm tôm và cua giúp ngăn chặn dầu tràn

    Vỏ cua và tôm, vốn thường bị loại bỏ, có thể được sử dụng để làm phao, các hàng rào và tấm phủ giúp ngăn chặn các vụ tràn dầu trên biển.

  • Phương pháp mới kiểm tra độc tố trên thuỷ sản có vỏ
    Phương pháp mới kiểm tra độc tố trên thuỷ sản có vỏ

    Cơ quan Kiểm Tra Thực Phẩm Canada (CFIA) đã phát triển một phương pháp mới kiểm tra độc tố gây bại liệt trong thuỷ sản có vỏ (PSP) nhanh hơn, đồng thời có thể phát hiện được các chất độc có mặt trong vẹm, trai, hàu và sò điệp ở hàm lượng như thế nào.

  • Thức ăn và chất lượng nước cần được kiểm tra lại
    Thức ăn và chất lượng nước cần được kiểm tra lại

    Các loại thức ăn thủy sản được đưa vào hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản. Thức ăn thừa hoặc không tiêu hóa và sản phẩm phụ chuyển hóa của chúng là những nhân tố chính ảnh hưởng đến các vấn đề về chất lượng nước. Thức ăn thích hợp và kỹ thuật quản lý thức ăn đòi hỏi phải giám sát, đánh giá và cải tiến liên tục.