Việt Nam chỉ có 2 loài hươu: Hươu sao (Cervus nippon) phân bố từ Quảng Bình trở ra, nhưng hầu như ở trạng thái tự nhiên đã bị tuyệt chủng, mà chỉ còn ở trạng thái nuôi dưỡng. Hươu đỏ (Cervus porinus) còn phát hiện ở các tỉnh Tây Nguyên, nhưng rất hiếm. Nai (Cervus unicolor) phân bố rộng trên cả nước nhưng số lượng cá thể ngày nay cũng còn ít. Nai cà toong (Cervus eldi) cũng là loài hiếm và chỉ gặp ở các tỉnh miền núi phía Nam. Các loài trên cùng một giống Cervus, trong họ Sừng đặc (Cervidae), trong họ này còn có loài hoẵng (Muntiacus muntijak) phân bố rộng hơn và số lượng cá thể cũng nhiều hơn. Giá trị của nhóm thú nói trên: Thịt ngon và bổ, xương và gạc (sừng già) nấu cao (cao ban long) là dược liệu quí, tỷ xương và dịch hoàn ăn có tác dụng ích tinh trợ dương, nhưng quí nhất là cặp nhung (tức sừng non); Nó là vị thuốc bổ hảo hạng. Hươu đã được thuần hoá ở nhiều nơi trên thế giới, ở Việt Nam hươu sao cũng đã được nuôi khoảng 1 thế kỷ nay, đầu tiên ở vùng Hương Sơn - Hà Tĩnh và Quỳnh Lưu - Nghệ An, nay đã phát triển ra nhiều nơi. Tuổi thọ của hươu sao khoảng 30 năm và sinh lợi khoảng 20 - 25 năm. Con cái mỗi năm đẻ một lứa, thông thường mỗi lứa đẻ một con, con đực mỗi năm cắt được một hoặc hai cặp nhung.

ky-thuat-nuoi-nai-huou


I. Cách làm chuồng
Mặc dù hươu sao đã được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ, nhưng tính nhát người vẫn còn mạnh, nên không thể thả lỏng như dê, bò mà phải có chuồng nhốt.


1. Chuồng nhốt hẹp
Theo kinh nghiệm của nhân dân Hà Tĩnh, Nghệ An, chuồng làm có hình vuông hoặc hình chữ nhật, làm trên nền đắp cao. Nhân dân thường tích phân lại trong chuồng khoảng 6 tháng mới lấy ra một lần. Vì vậy đáy chuồng được đào sâu xuống khoảng 30 - 40 cm và thường xuyên đổ tro, trấu làm cho phân và nền chuồng luôn được khô. Thành chuồng làm bằng gỗ, cột vuông (mỗi cạnh khoảng 18 x 20 cm), hoặc cột tròn (đường kính 20 - 22 cm) ; Gỗ làm xà và thành chuồng kích thước 4 x 13 cm, gỗ tròn thì đường kính khoảng 10 cm. Thành chuồng sát tới mái, cao khoảng 2 - 2,5m. Mỗi chuồng có nhiều ngăn, chuồng lớn hay nhỏ do số ngăn quyết định, mỗi ngăn có diện tích 4 - 6 m2. Số ngăn phụ thuộc vào số hươu nuôi nhiều hoặc ít. Mỗi con hươu đực phải nhốt riêng ở một ngăn, hươu cái và hươu con nhốt chung. Vì vậy, mỗi chuồng tối thiểu phải có hai ngăn, nhiều là 5 ngăn, trong đó bao giờ cũng phải có một ngăn dự trữ dùng để nhốt hươu khi các ngăn khác cần làm vệ sinh, cần sửa chữa, hoặc khi nuôi nhiều hươu cái mà có một con động dục cần phải nhốt riêng con đó với hươu nòi để phối giống.
Mỗi ngăn thường làm 3 cửa: Một cửa mở ra phía ngoài để người ra vào khi cần, một cửa chung với ngăn bên để có thể lùa hươu từ ngăn này qua ngăn khác và cửa thứ 3 là cửa nhỏ hươu chỉ chui đầu lọt, thò cổ ra ngoài để ăn. Kiểu chuồng nói trên tuy đáp ứng được việc nuôi với số lượng ít, nhưng không được tốt vì quá chật và thấp, thiếu ánh sáng. Việc tích phân lại trong chuồng tuy có mặt ưu điểm là phân chóng hoai và tốt, nhưng mất vệ sinh, hươu dễ mắc bệnh. Vì vậy, nền chuồng cần lát gạch, láng xi măng hoặc nền đất thì phải đầm kỹ, hàng ngày quét dọn sạch sẽ. Quanh chuồng có một khoảng vườn được rào vững chắc bằng gỗ, tre, lưới thép hoặc xây cao từ 2,5 m trở lên, trong vườn có cây che bóng làm nơi cho hươu, nai chơi đùa, tắm nắng. Chuồng nuôi hươu có 3 gian.


2. Chuồng nhốt rộng
Chuồng nhốt hẹp có lợi là ít tốn diện tích, rẻ tiền nhưng con vật nuôi bị nhốt gò bó sẽ gây suy thoái những phẩm chất vốn có khi còn sống hoang dã. Muốn nuôi tốt hơn thì chuồng cần làm rộng, một phần là nhà che mưa, phần để trống có cây che bóng mát có cỏ và cây bụi làm thức ăn. Nguyên liệu để rào vườn có thể bằng lưới thép, bằng gỗ, tre hoặc xây, chiều cao từ 2,5m trở lên và không có các khe kẽ rộng quá 10 cm. Nên ít nhất là hai ngăn, ở giữa là một lối đi hẹp, lúc cần bắt đặt bẫy ở giữa lùa chúng vào cho dễ bắt.


II. Thức ăn và chế độ cho ăn
Theo số lượng thống kê được thì hươu sao ăn tới 50 loại thức ăn khác nhau, gồm : cỏ, lá cây, quả cây, rau và các loại chất bột. Chủ yếu là các loại sau : lá mít, lá vả, lá sung, lá cây muối, lá dướng, lá hu đay (lá giấy), lá ngái, lá ngoã, lá vông, lá khế, lá xoan, dây khoai lang, dây lạc còn có thể phơi khô để dành cho ăn dần.
Người ta cũng thường bồi dưỡng cho hươu bằng các loại chất bột như cơm, cháo (nếp hoặc tẻ), ngô hạt luộc hoặc bắp ngô sống non, khoai lang (sống hoặc luộc), sắn củ tươi ; các loại rau như rau muống, bắp cải, su hào, bí đỏ, cà rốt... Ngoài ra khi con vật gầy yếu, ốm, con đực ở thời kỳ sắp mọc nhung hay sau khi cắt nhung, sau khi giao phối với con cái ; con cái ở thời kỳ nuôi con hay sắp tới thời kỳ động dục, người ta còn bồi dưỡng cho chúng bằng trứng (luộc hoặc nấu cháo).
Khẩu phần thức ăn của một con mỗi ngày khoảng 30 kg cỏ lá. Ăn 2 bữa: sáng sớm và chiều tối. Không nên cho ăn thuần loại, vì ăn thế hươu chóng chán và không đủ chất. Việc bồi dưỡng bằng chất bột tuỳ theo khả năng ta có và không nên cho ăn nhiều quá sẽ gây rối loạn tiêu hoá, chỉ bồi dưỡng cho con đực vào thời kỳ sắp mọc nhung và con cái vào thời kỳ nuôi con.
Khi mới ăn món lạ có thể hươu chưa chịu ăn ngay, ta cho thêm ít muối để kích thích. Đồng thời nên cho ít muối vào trong một cái ống có dùi nhiều lỗ nhỏ để nước muối rỉ ra cho hươu liếm.


III. chăm sóc
Cần biết những đặc tính sinh học thì mới hiểu cách chăm sóc chúng. Hươu sao (cả đực và cái) hai tuổi thì trưởng thành sinh dục (động dục và giao phối). Chúng động dục vào mùa thu và đẻ vào mùa xuân, thời gian chửa khoảng 6 tháng rưỡi đến 7 tháng, cả con đực và con cái đều động dục có mùa, khi con đực đã chín muồi thì không được nhốt chung với con cái; vì lúc con đực đòi nhẩy mà con cái chốn chạy, nó có thể phát khùng và húc chết con cái. Khi con cái động dục có biểu hiện là : kêu rống, đi lại nhiều trong chỗ nuôi nhốt, hay nhìn về phía con đực, lúc ấy cần cho đực - cái gặp nhau, sau khi cho giao phối mà con cái chưa chửa thì khoảng 20 ngày sau lại động dục, nếu sau thời gian ấy không thấy con cái có biểu hiện động dục là giao phối đã thành công và cần nhốt riêng, không được nhốt chung với đực tránh để con đực làm rầy gây cho con cái sẩy thai.
Những con đực chưa đến mùa sinh dục có thể nhốt chung, nhưng trong mùa sinh dục phải nhốt riêng, kẻo nó ganh cái sẽ húc nhau gây nguy hiểm. Một con đực có thể cho giao phối với 10 con cái, nhưng sắp tới mùa sinh dục và sau khi cho giao phối cần bổi dưỡng, con đực nòi nào mà cho giao phối với nhiều con cái thì không nên cắt nhung.


Khi con cái đẻ phải chú ý mấy việc sau đây:
- Có trường hợp con cái không động dục, không đẻ, phải dùng hormon kích thích sinh dục.
- Có trường hợp đẻ lứa đầu con mẹ vụng về hoặc do đau vú nên không cho con ăn, phải can thiệp để bắt ép nó phải cho con bú.
- Có trường hợp đẻ khó quá phải can thiệp để lôi con ra.
- Khi con mẹ âu yếm con mới đẻ thường có thói liếm chỗ rốn mà mẹ mới cắn dây rốn, rồi liếm quá nhiều hoặc khi con ỉa nó cũng liếm đít quá nhiều mà lưỡi mẹ lại ráp nên dễ làm chảy máu gây nhiễm trùng và chết. Vì thế một phản xạ tự nhiên là con hay trốn bỏ mẹ, đến giờ bú con nó sẽ về, nhưng có điều nguy hiểm là chó mà nhìn thấy sẽ cắn chết con con.
IV. Bệnh của hươu sao và cách phòng chống
Hươu thường hay mắc một số bệnh như: đầy hơi, chướng bụng do ăn phải thức ăn ôi, thiu, mốc hoặc do chuống quá ẩm, bị ngâm nước tới bụng, bị ngộ độc do ăn phải lá độc, vỏ sắn, củ sắn chảy nhựa, bị cảm, bị ỉa chảy, hà móng, sưng chân ... Cách phòng chữa như các loài gia súc ăn cỏ khác.


V. Cắt nhung
Sừng của nhóm thú trong họ sừng đặc (hươu, nai, hoẵng...) mọc từ hai mấu của xương sọ và có đặc tính thay đổi hàng năm.
Khoảng mùa xuân (từ tháng 2 - 4 dương lịch) gốc sừng phát triển mạnh, đẩy lồi gạc (sừng già) lên, nếp da bao gốc sừng căng mọng mạch máu, gạc lung lay khi va chạm vào vật rắn rụng đi, con nào cắt nhung hàng năm thì gốc sừng chỉ còn lại một cái đế như nắp chai bia và hàng năm cũng rụng như thế, khi gạc (hoặc đế) đã rụng, nếp da bao quanh đế có chảy ít máu rồi nó phát triển chùm lên vết thương, màu đỏ hồng kéo dài ra thành sừng non, bên trong tích tụ đầy máu và bên ngoài có lớp lông tơ mịn như nhung. Sau khoảng 60 - 70 ngày kể từ khi gạc (hoặc đế) rụng, là lúc cắt nhung vừa có năng suất vừa đảm bảo được phẩm chất (riêng cặp đầu tiên khi con đực được một tuổi thì không nên cắt). Cắt xong lớp da lại tiếp tục phát triển chùm lên dấu cắt, nếu chăm sóc tốt, cắt hơi non (khoảng 60 – 65 ngày), không cắt quá cụt sát với mấu sọ, không làm hươu đau và chảy nhiều máu, thì lớp da đã chùm lên vết cắt lại kéo dài ra thành nhung và sẽ cắt được lần thứ 2 trong một mùa nhung của năm ấy.


Khi cắt nên dùng cưa phẫu thuật hoặc cưa sắt đã sát trùng.
Người ta có thể hứng máu chảy ra để pha rượu uống, nhưng không nên để chảy nhiều vì hại sức khỏe hươu; muốn cầm máu lấy ngón tay đè mạnh vào mạch máu ở giữa gốc sừng và tai, lấy lá nhọ nồi miết chặt lên dấu cắt.
Khi muốn bắt hươu để cắt nhung có thể dùng cũi đặt chỗ thích hợp để lùa hươu vào, hoặc dùng lưới săn hay cái võng. Chú ý đỡ hươu, không để rẫy rụa làm vỡ nhung. Nhung sau khi cắt, treo ngược dấu cắt lên trên, để vài giờ cho máu đông lại rồi lấy rượu rửa sạch bên ngoài, nhưng tránh không nhúng dấu cắt vào rượu để các chất bên trong khỏi bị rút ra.
Sấy nhung : (kể cả nhung hươu nuôi hoặc hươu săn được ngoài rừng) Lấy một ít tro nóng trải lên đất, đổ lên trên một đống than hồng, rồi lại trải lên một lớp tro nóng để giữ nhiệt cho đủ và lâu. Lấy cái thùng không đáy làm quây hoặc cót quây lại đem treo cặp nhung trong đó rồi đậy nắp lại. Cần chú ý giữ nhiệt luôn đều và thay đổi từ 50 -700C. Nóng quá nhung bị vỡ, lạnh quá nhung bị thối, sấy liên tục 3 ngày 3 đêm, khi thấy nhung khô cong, cầm hai cái gõ vào nhau có tiếng kêu ròn là được. Khi treo nhung phải buộc dây ở giữa và treo chếch 400C, đừng chúc đầu có dấu cắt mà máu chảy ra, nếu treo chúc thẳng ngọn xuống sẽ bị vỡ.


Sử dụng : Trước khi sử dụng phải làm sạch lớp lông tơ bên ngoài bằng cách dùng dao cạo sống, hoặc nhúng vào nước sôi rồi cạo hay dùng một thanh sắt nung đỏ lăn trên da làm cháy lông. Sau khi làm sạch lông, thái thành lát mỏng, có thể để cả lát ngâm rượu hoặc nhai sống nhưng thông thường thì người tạ rang ròn tán thành bột cất vào lọ thuỷ tinh để sử dụng dần.
Liều dùng hàng ngày khoảng 1/4 thìa cà phê, uống lúc đói hoặc trước khi đi ngủ, hoà vào rượu hoặc nước trà hay trộn với mật ong, nước cơm. Chú ý, trừ trường hợp dùng để chữa bệnh, còn nếu chỉ dùng bồi bổ sức khoẻ, chỉ người 40 tuổi trở lên hãy nên dùng, nếu ít tuổi và béo khoẻ mà dùng sẽ sinh nhiều tai biến.


Những điều trình bày trên chủ yếu nói về hươu sao, nhưng nuôi nai cũng thế và cũng có người nuôi hoẵng, phương pháp chung cũng như vậy. Tuy nai mới được nuôi ít hơn nhưng thực tế cho thấy nuôi nai dễ hơn nuôi hươu sao, vì: chúng chóng dạn người hơn, nếu nuôi từ còn nhỏ đến khi lớn có thể chăn thả như trâu bò; nai to hơn, ăn nhiều hơn nhưng thích ăn cỏ hơn lá, dễ kiếm hơn, có điều chú ý là hươu không đằm, nhưng nai lại thích đằm. Nhung nai tuy bị coi kém phẩm chất hơn nhung hươu sao, nhưng có trọng lượng lớn hơn, nên có thể lấy lượng bù chất.