Lợi Ích Từ Việc Nuôi Bò Sữa

- Mô hình nuôi bò sữa trong những năm qua đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên cả nước, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo từ con bò sữa, cũng không ít hộ gia đình đã khấm khá và làm giàu từ đàn bò sữa của mình.

- Để việc nuôi bò sữa đạt hiệu quả và cho năng suất cao, đòi hỏi bà con phải nắm bắt được kỹ thuật nuôi, chăm sóc và phòng trị bệnh. Những kiến thức trình bày trong sách đã được chúng tôi sưu tầm và nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu quý giá, sau đó chắc lọc những kiến thức cần thiết rồi biên soạn thành sách với mục đích là giúp bà con có thêm kinh nghiệm trong việc nuôi và chăm sóc bò sữa.

- Hy vọng quyển sách sẽ mang lại nhiều điều bổ ích cho bà con nông dân.

I. Kỹ Thuật Chọn Giống

Trong chăn nuôi bò sữa, việc chọn đúng giống, giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng là yếu tố chính quyết định tới năng suất sữa.

- Con giống quyết định 40% sản lượng sữa.

- Thức ăn quyết định 30% sản lượng sữa

- Nuôi dưỡng chăm sóc quyết định 30% sản lượng sữa.

Khi chọn bò giống, phải chọn những con không bệnh tật, khỏe mạnh và cần căn cứ vào những tiêu chuẩn sau:

1. Đặc điểm ngoại hình

Bò có ngoại hình cân đối. Bầu vú rộng, đều, mềm, đầu thanh nhẹ, bốn chăn chắc chắn.

2. Tầm vóc và khối lượng

- Đối với bò Hà Lan thuần 3 – 4 tuổi; P: 450 – 500kg.

- Bò Hà Lan-Việt 3-4 tuổi, P: 350-390kg.

- Bò lai 3-4 tuổi, P: 280 – 320kg.

Xác định thể trọng theo 2 công thức:

a. Công thức Kaxinlo:

P (kg) = Vòng ngực (m) x Dài thân chéo (m) x 87,5

b. Công thức D.W Jonson:
Vòng ngực x Dài thân chéo
P (kg) = ----------------------------------
10.800

3. Di truyền

Giống bố mẹ tốt, sản lượng sữa cao, chu kỳ cho sữa dài, khỏe mạnh.

4. Khả năng cho sữa

- Chu kỳ khai thác sữa:

+ Bò Hà – Việt : 270 – 300 ngày.

+ Bò lai: 240 – 170 ngày.

- Năng suất sữa trung bình:

+ Bò Hà – Việt : 08 – 10 kg/ngày.

+ Bò lai: 06 – 08 kg/ngày.

Ngoài ra điều kiện môi trường, khí hậu chuồng nuôi, cách chăm sóc nuôi dưỡng và cách vắt sữa cũng có ảnh hưởng đến thành phần và sản lượng sữa.

II. Phát Hiện Động Dục Và Phối Giống

1. Động dục của bò và thời điểm phối giống

- Thời gian động dục kéo dài 18-36 giờ, và sau khi đẻ 20-30 ngày thì lên giống trở lại. Thời điểm lên giống tốt nhất là vào lần động dục thứ 2 tức là 45-60 ngày sau khi đẻ (chu kỳ động dục 21 ngày). Đối với bò có sản lượng sữa cao thì nên phối giống vào tháng thứ 3 hoặc thứ 4 để kéo dài chu kỳ vắt sữa.

- Biểu hiện bò động dục: bò ít ăn, giảm sữa, thường nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy (nếu con ở dưới đứng yên thì bản thân con đó đang lên giống, nếu con ở dưới chạy thì con nhảy lại là con lên giống, trừ trường hợp cả hai con đều lên giống).

Biểu hiện cơ quan sinh dục: âm hộ sưng đỏ, chảy nước nhờn trong, lỏng sau đặc dần. Khi kiểm tra bên trong thấy tử cung cứng hơn bình thường, noãn sào to lên. Sau khi rụng trứng chỉ sống được 6 – 10 giờ.

- Xác định thời điểm phối giống, thời gian rụng trứng: 10-12 giờ sau khi kết thúc động dục còn tinh trùng sống trong cơ quan sinh dục của bò cái 12-18 giờ. Vì vậy ta phải phối cho bò 2 lần để rào trước, đón sau, tức là lúc bò chảy nước nhờn keo và đục, âm hộ sưng và chuyển màu đỏ sẩm.

2. Phương pháp phối giống cho bò sữa

- Phối giống trực tiếp: cho bò đực nhảy trực tiếp nhưng ít lấy được giống tốt và hay bị lây truyền bệnh đường sinh dục. Thông thường người ta chỉ sử dụng phương pháp này đối với số bò tơ đã trưởng thành có trọng lượng nhỏ hoặc bò khô phối.

- Phối giống nhân tạo: dùng tinh đông viên hoặc tinh lỏng đã chế sẵn đưa vào tử cung bò. Với phương pháp phối giống nhân tạo chúng ta có thể chọn giống theo đúng yêu cầu chăn nuôi phù hợp với giống bò mẹ để cho ra đàn con có chất lượng tốt.

III. Chăm Sóc Và Đở Đẻ Cho Bò Sữa

Bò cái sắp đẻ tách khối đàn 15 ngày trước khi đẻ, theo dõi thường xuyên để có thể can thiệp kịp thời nếu có biến cố xảy ra.

Thông thường, người ta để bò đẻ tự nhiên, sau 2-3 giờ bò chưa đẻ được mới phải can thiệp. Thời gian mang thai của bò là 9 tháng 10 ngày, cũng có nhiều trường hợp chênh lệch lên xuống 5-6 ngày.

1. Chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ

- Nước muối 10% hoặc thuốc tím 0,1%.

- Cồn Iod hoặc Cồn 750.

- Xà bông, rơm, cỏ khô v.v…

- Thuốc thú y cần thiết khi phải can thiệp: Oxytocin, Vitamin C, camphora.

2. Phương pháp đỡ đẻ

- Sát trùng tay bằng cồn, tắm rửa bò sạch sẽ nhất là phần mông và âm hộ.

- Kiểm tra xem thuận hay nghịch (thai thuận đầu và 2 chân trước hướng ra ngoài, mọi tư thế khác đều gọi là thai nghịch, ta phải sữa lại tư thế thai hay chuẩn bị để có thể can thiệp kịp thời).

Trước khi đẻ bọc ối vỡ, bò rặn và thai lọt ra ngoài. Nếu bò mẹ yếu ta phải kéo thai (lợi dụng lúc bò rặn mới kéo) hoặc kích thích cho bò rặn bằng cách chich cho mỗi con khoảng 100-150 UI Oxytocin (tùy trong lượng cơ thể) chia 2-3 lần cách nhau 30 phút, chú ý tuyệt đối không được chích quá liều cho phép vì Oxytocin có thể làm bò rặn quá mức dẫn đến bể tử cung.

- Bê lọt lòng để bò mẹ liếm, nếu không phải dùng khăn lau khô bóc móng cho bê đứng, rốn cắt cách bụng 15 cm sát trùng bằng cồn Iod cho đến khi khô. Bò đẻ xong nên cho uống nước hòa cám và muối. Sau 1-2 giờ thì bê cứng cáp bắt đầu cho bê bú sữa đầu.

- Chuồng bò đẻ và chuồng bê phải luôn khô ráo sạch sẽ.

3. Giai đoạn hậu sản

- Cho bò ăn thức ăn bồi dưỡng và thức ăn xanh non.

- Dùng bock rửa tử cung bò bằng nước sát trùng khoảng 3-4 ngày đầu để ngừa viêm.

- Chế độ vắt sữa: những ngày đầu bò mới đẻ thường thường bầu vú còn cứng do đó lúc vắt sữa ta phải lấy nước nóng chườm bầu vú cho mềm lại đồng thời tăng cường xoa bóp bầu 3-4 lần/ngày cho đến khi bầu vú bò mềm hẳn thì lúc đó sản lượng sữa mới tăng dần lên được. Chế độ luyện vú phải làm thường xuyên và liên tục trong thời gian khoảng 10 ngày. Nếu sữa bò vắt ra có màu hồng thì ta phải giảm bớt lượng thức ăn tinh.