Bệnh Xuất Huyết Ở Cá Trắm Cỏ

1. Dấu hiệu bệnh lý

benh-xuat-huyet-o-ca-tram-co

Da cá có màu tối xẫm, cá nổi lờ đờ trên tầng mặt. Cá bệnh nặng có một số dấu hiệu: mắt lồi và xuất huyết, mang nhợt nhạt, nắp mang, vây xuất huyết. Cá giống trắm cỏ (4-6cm), nhìn dưới ánh sáng mạnh, có thể thấy cơ xung xuất huyết. Xoang miệng, nắp mang, xung quanh mắt, gốc vây và phần bụng đều biểu hiện xuất huyết, nhãn cầu lồi ra, tơ mang màu đỏ tím hoặc trắng nhợt do mất máu. Cá trắm cỏ lớn trên 2 tuổi nếu nhiễm bệnh, dấu hiệu xuất huyết không rõ ràng. Bệnh thường kết hợp với bệnh viêm ruột do vi khuẩn làm cho ruột hoại tử và sinh hơi, đồng thời thấy triệu chứng hậu môn viêm đỏ.

2.Tác nhân gây bệnh

Bệnh do virus Reovius gây ra, bệnh xuất hiện ở cá trắm cỏ, cỡ cá chủ yếu < 1 tuổi, gây tác hại rất lớn ở các vùng nuôi tại miền Bắc và khu vực Tây Nguyên.

3. Phân bố và lan truyền bệnh

Bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm cỏ xảy ra ở rất nhiều nơi trên thế giới, nơi nào nuôi cá trắm cỏ, thì ở đó có bệnh này.

Mầm bệnh virus lây nhiễm vào cá khoẻ chủ yếu từ cá bệnh và cá mang virus. Cá bệnh sau khi chết, virus phát tán ở trong nước, các chất thải và dịch nhớt của cá bệnh đều mang virus. Bệnh xuất huyết của cá trắm cỏ là bệnh của vùng nước ấm. Thông thường phát bệnh khi nhiệt độ nước từ 25-320C, mùa vụ xuất hiện thường vào cuối cuối xuân đầu hè (tháng 3 đến tháng 5), và mùa thu (từ tháng 8 đến tháng 10) khi nhiệt độ nước 25-300C. Trong điều kiện này, bệnh xuất hiện nhiều và gây chết cá hàng loạt.

- Bệnh có thể xảy ra ở 2 dạng:

+ Dạng cấp tính: bệnh phát triển rất nhanh và trầm trọng, cá bị bệnh sau 3-5 ngày có thể chết, tỷ lệ chết 60-80%; ở nhiều ao, lồng cá chết 100%. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá giống cỡ 4-25cm, đặc biệt cá giống cỡ 15-25cm (0.3-0.4kg/con) mức độ nghiêm trọng nhất khi nuôi ở mật độ dày như nuôi cá lồng và ương cá giống.

+ Dạng mãn tính: Bệnh phát triển tương đối chậm, cá chết rải rác trong suốt mùa phát bệnh, hiện tượng cá chết không có đỉnh cao rõ ràng. Bệnh mãn tính thường xuất hiện ở ao cá giống, nuôi ở diện tích lớn và mật độ thưa.

4. Bệnh tích.

Tróc vẩy và lớp da của cá, cho thấy hiện tượng xuất huyết trên cơ thân cá rất nặng, làm cơ dưới da có màu đỏ tím, đây là dấu hiệu đặc trưng thường thấy của bệnh này. Trong các cơ quan nội tạng quan sát thấy: ruột xuất huyết cục bộ hoặc toàn bộ xuất huyết màu đỏ thẫm, thành ruột còn chắc chắn, không hoại tử; trong ruột không có thức ăn; gan xuất huyết có đốm màu trắng. Xoang bụng cũng có hiện tượng xuất huyết.

5. Phòng và trị bệnh

Áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp: vệ sinh lồng, ao nuôi kỹ lưỡng trước khi nuôi, dùng vôi hoà vào nước và té đều xuống ao với nồng độ 2kg/100m2 (2 lần/tháng) để tiêu diệt mầm bệnh. Vào mùa bệnh, nên dùng vitamin C bổ sung vào thức ăn cho cá, với liều lượng 30 mg/kg cá/ngày và cho ăn liên tục trong mùa phát bệnh.

Mùa xuất hiện bệnh nên cho cá ăn thuốc KN-04-12, mỗi đợt cho ăn 3 ngày liên tục; liều lượng: cá giống 4g/kg cá/ngày, cá thịt 2g/kg cá/ngày.

 
 
Đánh giá bài viết:  1 of 5 2 of 5 3 of 5 4 of 5 5 of 5
0
Tổng số  0
5 star:
4 star:
3 star:
2 star:
1 star:

Máy O2-TURBINE®

Máy quạt nước nuôi tôm

Máy thổi khí

Vùng đất duyên hải tỉnh Nghệ An chủ yếu là đất pha cát bạc màu, giá trị kinh tế khi trồng cây nông nghiệp rất thấp. Những năm gần đây, trên chính vùng đất ấy đã cho thu nhập rất cao (1 - 1,5 triệu đồng/m2) từ nghề nuôi cá lóc đen cao sản.
Cá trê dễ nuôi, sinh trưởng nhanh, là loài cá ăn tạp, tận dụng được nhiều loại thức ăn sẵn có. Có thể nuôi trong bể, ao nhỏ vài chục mét vuông đến ao rộng vài trăm mét vuông, nuôi đơn, nuôi ghép đều được.
Cá rô đồng hiện đang được nuôi khá phổ biến ở ĐBSCL. Nguồn giống hiện nay chủ yếu do các trung tâm giống sử dụng phương pháp sinh sản nhân tạo cung cấp.
Trong điều kiện nuôi ở nước ta, cá rô phi vằn sau 4-5 tháng mới bắt đầu phát dục. Đến tuổi phát dục, ở mép các vây đuôi, vây lưng và vây bụng ở cá đực có màu sắc rực rỡ từ hồng đến xanh đen, giống như “khoác bộ áo cưới”. Trong khi đó cá cái không có thay đổi gì về màu sắc bên ngoài mà chỉ có bụng phát triển to hơn so với cá đực.
Ông Nguyễn Văn Bay, thôn Thiên Phúc, xã Trung Chính (Lương Tài), có 2 mẫu đất (trong đó có 1,2 mẫu ao) chuyên nuôi cá thịt. Qua nhiều năm sản xuất, ông đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho các đối tượng thuỷ sản, đặc biệt là trồng rau lấp vụ đông trên chân đất trũng cấy 2 vụ lúa để làm thức ăn nuôi cá trắm cỏ cho hiệu quả kinh tế cao.
Sau khi đã thu hoạch tôm, tháo cạn nước, nếu ao không thoát tự nhiên thì phải dùng máy bơm bơm hết nước và hút bùn nhão dưới đáy ao ra ngoài.
Huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang quanh năm được hưởng nguồn nước ngọt từ sông Hậu đổ về, nên từ những năm 1990 bà con nông dân ở đây đã tận dụng diện tích mặt nước dọc các bờ kênh để nuôi cá bống tượng thương phẩm. Song, lâu nay vấn đề con giống vẫn là nỗi trăn trở của người nuôi cá bống tượng.
Theo chân anh cán bộ khuyến nông huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), chúng tôi tham quan mô hình nuôi cá chình trong bể xi măng theo hướng thâm canh tại hộ chị Đặng Thị Minh Thuý, xã Bình Thạnh.
Những năm trước đây, nông dân chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống để nuôi cá tai tượng như cho ăn rau xanh, ít sử dụng thức ăn công nghiệp… nên thời gian nuôi kéo dài đến 2-3 tháng mới thu hoạch, chất thải trong nuôi cá rất nhiều mà không có biện pháp xử lý.
Mô hình nuôi cá ghép trong ao, bè ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) đang được nông dân áp dụng hiệu quả, vừa nâng cao thu nhập kinh tế cho gia đình, vừa giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi ở địa phương, trong đó hộ gia đình ông Lê Văn Dũng (SN 1955), ở ấp Long An B, xã Phú Thọ, huyện Tam Nông là một trong những hộ điển hình nuôi thành công mô hình này.
Cá tra đã trở thành đối tượng cá nước ngọt được nuôi chủ yếu ở ĐBSCL. Sản lượng cá tra tăng nhanh từ khi nghề nuôi đã chủ động được nguồn giống và phát triển tốt thị trường xuất khẩu.
Mặc dù Bộ Thuỷ sản đã chính thức công bố hai mẫu cá nuôi tại Đồng Nai là cá chim trắng chứ không phải cá dữ piranhas, theo nhiều chuyên gia, vẫn không nên phát triển đại trà loài cá này
Cá lăng nha có tên khoa học là Mystus Wyckiioides, là loài cá nước ngọt, sống nhiều ở các nước châu Á, đặc biệt là các nước thuộc vùng châu thổ sông Mê Kông.